Tên Gọi Khác Của Chòm Sao Bảo Bình / 2023 / Top 19 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Getset.edu.vn

Lịch Sử Tên Gọi Các Chòm Sao Thiên Văn / 2023

Vào mỗi đêm, khi quan sát bầu trời đêm, chúng ta liên tưởng đến một loạt những câu chuyện thần thoại Hy Lạp như Anh Tiên bay đến giải thoát cho Tiên Nữ, Lạp Hộ đối mặt với những con thú dữ, Mục Phu và những con gấu quay quanh cực, đoàn tàu Argo đi tìm kiếm bộ lông cừu. Những điều này được mô tả bởi một nhóm các ngôi sao mà những nhà thiên văn học gọi là chòm sao.

Chòm sao là phát minh của trí tưởng tượng của con người, không phải do tự nhiên sắp đặt. Chúng là những khuôn mẫu qui ước do con người tưởng tượng ra từ những ngôi sao xuất hiện hỗn độn trong bầu trời đêm. Nó giúp cho việc định hướng trong hàng hải, dẫn dắt con người đi trên sa mạc, tính toán lịch nông nghiệp cổ đại, đồng hồ trong đêm tối. Việc phân chia bầu trời thành từng nhóm giúp ta kiểm soát việc đó dễ dàng hơn.

Những người mới biết đến thiên văn học, hẳn sẽ sớm thất vọng để tìm thấy phần lớn những ngôi sao trong chòm sao Tiểu Hùng và những cái tên của nó, chúng ta khó có thể hình dung được hình ảnh của nó trên bầu trời. Bầu trời đêm là một hình ảnh về trí tưởng tượng của con người, phản ánh những việc làm hoặc hiện thân của những vị thần, những động vật và những mẩu chuyện ngắn đầy tính nhân văn và thần thánh. Đó là một bức tranh rộng lớn mà ta quan sát được vào mỗi đêm khuya.

Hệ thống các chòm sao mà chúng ta sử dụng ngày nay, phần lớn từ danh sách 48 chòm sao được công bố vào thập kỷ 150 bởi nhà khoa học Hy Lạp Ptolemy trong cuốn sách Almagest. Sau đó các nhà khoa học đã bổ sung thêm 40 chòm sao nữa để lấp đầy những khoảng trống trên bầu trời không có trong danh sách các chòm sao của Ptolemy ở vùng quanh cực Nam Trái Đất, những nơi mà không thể quan sát được từ Hy Lạp. Kết quả là có 88 chòm sao kề nhau được chấp nhận bởi Hiệp hội Thiên văn học Quốc tế (IAU).

Những chòm sao được Ptolemy liệt kê ra, không phải là phát minh của riêng ông mà chúng đã xuất hiện từ rất lâu trước đó. Tuy nhiên, cho đến ngày nay nó đã chìm sâu vào quá khứ do thời gian. Trước thời ông, Homer và Hesiod chỉ đề cập đến một vài nhóm ngôi sao như Đại Hùng, Lạp Hộ, Quần tinh sao Đám hạch lớn.

Chặng đường đầu tiên được nhìn nhận rõ ràng là ở phương Đông, ở vùng ven sông Tigris và Euphrates tại Irắc ngày nay. Vào thời Babylon, thời đại mà Homer và Heriod sống, những chòm sao hoàng đạo đã xuất hiện, đó là ở những vùng mà Mặt Trời, Mặt Trăng và những hành tinh đi qua. Chúng ta biết đến điều này thông qua một danh sách được viết trên đất sét có ghi ngày tháng vào năm 687 TCN. Scholars gọi danh sách này là chúng tôi – tên của một vị thần được ghi trong bảng. Những chòm sao Babilon có nhiều nét tương đồng với những chòm sao mà ngày nay chúng ta biết đến, nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Từ những văn bản khác nhau, các nhà sử học cho rằng những chòm sao này đã xuất hiện từ rất lâu trước đó, từ thời tổ tiên của họ là người Sumerians khoảng năm 2000TCN.

Xác minh nơi phát minh ra những chòm sao:

Nếu như Homer và Heriod đã đề cập đến những chòm sao Hoàng Đạo. Ta xem xét tập hợp các chòm sao trong danh sách của nhà thiên văn học Eudoxus (390TCN – 340TCN). Eudoxus được cho là học được những chòm sao từ những người thầy tu Ai Cập và giới thiệu nó cho người Hy Lạp. Ông đã công bố những chòm sao này trong 2 công trình Eloptron và Phaenomena. Cả 2 công trình này đều đã mất, nhưng Phaenomena vẫn tiếp tục sống mãi trong trường ca cùng tên của một học giả Hy Lạp khác là Aratus (315TCN – 245TCN). Phaenomena của Aratus đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về những chòm sao được biết đến bởi người Hy Lạp cổ đại.

Aratus được sinh ra ở Soli trong Cilicia tại bờ biển miền Nam mà ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ; ông học ở Athena trước khi làm cho tòa án của vua Antigonus của Maccedonia ở Bắc Hy Lạp. Tại đó, nhà vua yêu cầu ông viết tác phẩm Phaenomena vào khoảng năm 275TCN. Trong tác phẩm của mình, ông đưa ra 47 chòm sao như Nước (nay là chòm sao Bảo Bình) và Đám mây to. Aratus đã đặt tên 6 ngôi sao: Arcturus, Capella, Sirius, Procyon, Spica, Vindemiatrix. Ngôi sao cuối cùng trong số đó là đáng ngạc nhiên hơn cả, vì nó là ngôi sao sáng yếu hơn các ngôi sao trước, nhưng người Hy Lạp dựa vào nó để tính lịch thu hoạch nho.

Không khó để tìm ra nơi phát minh ra những chòm sao trong danh sách của Eudoxus và Aratus. Đầu tiên, Aratus không đưa ra các chòm sao phương Nam vì nó thường ở dưới đường chân trời tại vị trí ra đời các chòm sao. Do đó từ phạm vi các chòm sao được đưa ra có thể kết luận, nơi ra đời các chòm sao ở trên vĩ tuyến 35-36oB, tức là vùng Nam Hy Lạp, Bắc Ai Cập ngày nay.

Từ thực tế là cực của Trái Đất có chuyển động lắc lư từ Tiến động làm ảnh hưởng đến vị trí của các ngôi sao. Từ sự phân tích mới của Bradley Schaefer của trường ĐHQG Louisana kết luận những mô tả của Eudoxus tương ứng với vùng trời năm 1130 TCN. Khi đó, ta có thể kết luận các chòm sao trong danh sách của Eudoxus và Arates được phát minh bởi những cư dân sống ở Nam vĩ tuyến 36oB. Tại thời điểm đó, còn quá sớm khi nói đến nền văn minh Hy Lạp nhưng lại quá muộn khi nói đến văn minh Ai Cập. Tuy nhiên thời gian và không gian ở trên lại phù hợp cho vùng đất Babilon nơi mà tổ tiên của họ là Sumerian sống trên dải đất Mesopatamia là nơi phát minh ra các chòm sao vào khoảng năm 2000TCN.

Nhưng tại sao hệ thống các chòm sao của Eudoxus không đề cập đến tác động chuyển động của thiên cực? Như chúng ta đã đề cập, những chòm sao được mô tả bởi Eudoxus và Aratus trong Phaenomena tính từ vị trí thiên cực của 1000 năm trước đó. Bởi vậy, tại thời đại Aratus chuyển dịch vị trí của thiên cực trên thiên cầu nên các ngôi sao ở dưới vĩ tuyến 36oB. Chuyển động này của thiên cực chỉ được đề cập đến bởi Hipparchus (146TCN – 127TCN).

Giáo sư Archie Roy của trường ĐH Glassgow tranh luận về xuất sứ ra đời của các chòm sao không phải từ Babilon và Ai Cập mà đến từ một nền văn minh nào đó, mà ông đề xuất là Minoans trên đảo Crete và những hòn đảo lân cận ven biển Hy Lạp bao gồm Thera. Crete ở giữa vĩ tuyến 35o và 36oB và đế chế này tồn tại trong khoảng thời gian từ năm 3000TCN đến năm 2000TCN.

Hơn nữa Minoans là nơi thường diễn ra những hoạt động tiếp xúc với Babylon qua Syria trong giai đoạn sớm. Từ đây chúng ta có thể kết luận nơi ra đời các chòm sao có thể từ Minoans.

Nhưng nền văn minh Minoans đã bị xóa vết từ khoảng năm 1700TCN bởi sự phun trào núi lửa từ hòn đảo Thera cách khoảng 120km về phía Bắc Crete. Đó là một thảm họa thiên nhiên lớn nhất trong lịch sử loài người. Giáo sư Roy cho rằng, người Minoans đã đem nó đến Ai Cập trước khi xảy ra thảm họa và trải qua khoảng 1000 năm sau đó được Eudoxus ghi lại.

Luận điểm của giáo sư Roy khá thuyết phục, đồng thời hầu hết các thần thoại về các chòm sao có gắn với Crete. Tuy nhiên nó không được chấp nhận do không có những chứng cứ hiện vật như hình ảnh hay mô tả nào về các chòm sao được tìm thấy ở Crete nên nó được cho là suy đoán thiếu căn cứ xác thực.

Nguồn gốc thần thoại về các chòm sao

Sau Artus, chúng ta chuyển sang xem xét đến Eratosthenes (276TCN – 194TCN), tác giả của Catasterisms. Ông là nhà khoa học Hy Lạp, làm việc cho Alexandria tại vùng sống Nile. Catasterisms kể về thần thoại 42 chòm sao riêng biệt và những ngôi sao chính. Một phiên bản của Catasterisms là một bản sao còn sót lại và chỉ là một bản tóm tắt viết vào một thời điểm chưa được xác định rõ và nó khẳng định rằng bản chính được viết bởi Eratosthenes.

Một nguồn khác, cũng kể về thần thoại các chòm sao là cuốn sách thiên văn học Poetic Astronomy của tác giả La Mã Hyginus được viết vào thế kỷ thứ II. Chúng ta không biết nhiều về Hyginus, thậm chí ngay cả cái tên đầy đủ của ông, nhưng chắc chắn ông không phải là C.Julius Hyginus – một nhà văn La Mã sống vào thế kỷ I TCN. Cuốn sách của ông cơ bản nói về các chòm sao trong danh sách của Eratosthenes, nhưng nó chứa đựng thêm nhiều câu chuyện bổ sung. Hyginus cũng viết một bản thần thoại tóm tắt có tên là Fabulae. Trong thời phục hưng và trung cổ, nhiều phiên bản của Hyginus được ấn bản.

Marcus Manilius, một học giả La Mã mà chúng ta biết rất ít thông tin về ông đã viết cuốn sách Astronomica vào khoảng năm 15 dựa theo Phaenomena của Aratus. Tuy nhiên, nó chứa đựng phần lớn là thuật chiêm tinh hơn là thiên văn học nhưng nó cũng cung cấp những thông tin nhất định về nguồn gốc thần thoại của các chòm sao.

Ngoài ra, trong thiên văn học cũng đề cập đến 3 tên tuổi khác mặc dù họ không phải là những nhà thiên văn học nhưng cũng góp phần tìm hiểu nguồn gốc tên gọi các chòm sao. Trước tiên là nhà thơ Ovid của La Mã (43TCN – 17) – người đã kể lại nhiều thần thoại trong cuốn sách Metamorphoses lý giải tất cả những biến đổi trong vũ trụ và Fasti – cuốn lịch La Mã. Apollonicus là một người Hi Lạp, người đã biên tập tóm lược gần như là một cuốn sách giáo khoa về thần thoại vào thế kỷ I TCN. Cuối cùng là nhà văn Hi Lạp Apollonicus Rhodius với Argonautica là một bản anh hùng ca ca ngợi Jason và Argonauts, được biên soạn trong gần 1/3 thế kỷ, chứa đựng nhiều câu chuyện thần thoại.

48 chòm sao của Ptolemy

Thêm vào đó, việc mô tả những ngôi sao bởi vị trí của chúng đã được sử dụng bởi Eratosthenes và Hipparchus. Như vậy, rõ ràng thời Hy Lạp cổ đại chú ý đến những chòm sao không phải đơn thuần là tập hợp những ngôi sao mà từ bức tranh gắn với bầu trời. Điều này có thể nhận ra rõ ràng hơn khi các ngôi sao có tên cụ thể, nhưng Ptolemy chỉ đặt tên 4 ngôi sao đã được dùng trong 4 thế kỷ trước là: Altair, Antares, Regulas, Vega.

Thật khó có thể nói hết vai trò của Ptolemy đối với thiên văn học, hệ thống những chòm sao mà chúng ta đang sử dụng ngày nay thực chất là của Ptolemy, được sửa đổi và mở rộng. Cả châu Âu và Ả Rập dùng nó trong trên 1500 năm. Từ trong cuốn sách Atlas Coelestic của nhà thiên văn học quý tốc John Flansteed xuất bản năm 1729 viết: “Từ thời Ptolemy đến chúng ta, những cái tên được ông sử dụng vẫn được tiếp tục sử dụng và học tập ở tất cả các nước, người Ả Rập luôn luôn sử dụng khuôn mẫu của ông và tên những chòm sao. Danh sách Latinh cổ đại và những ngôi sao cố định cũng được sử dụng trong danh sách của Corpernicus và của Tycho Brahe, những danh sách xuất bản bằng tiếng Đức, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp và Anh cũng sử dụng. Tất cả những quan sát khoa học và chuẩn mực đều sử dụng chòm sao và tên ngôi sao theo khuôn mẫu của Ptolemy, và chúng ta sẽ gặp rắc rối nếu xa rời chuẩn mực đó”.

Định danh Ả Rập

Sau thời đại Ptolemy, thiên văn học Hi Lạp trở lên lu mờ, bởi vào thế kỷ VIII, trung tâm thiên văn học di chuyển về phương Đông từ Alexandria sang Baghdad, nơi mà cuốn sách của Ptolemy được dịch sang tiếng Ả Rập với cái tên Almagest mà ngày nay chúng ta biết đến nó. Al-Sūfǐ (903-986) còn được biết đến với cái tên Latinh là Azophi là nhà thiên văn học Ả Rập lớn nhất giới thiệu phiên bản của ông về cuốn sách Almagest trong Book of the Fixed Stars (Cuốn sách về những ngôi sao cố định) giới thiệu nhiều ngôi sao được đặt tên Ả Rập.

Nhiều ngôi sao sáng được đặt tên Ả Rập, như Aldebaran mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng từ họ. Họ cũng có những hiểu biết rất khác từ người Hy Lạp, những ngôi sao riêng biệt thông thường để đại diện cho một động vật hay một con người. Ví dụ, ngôi sao α và β Xà Phu có tên Ả Rập là người chăn cừu và con chó của ông. Và nhiều ngôi sao khác có cái tên như lạc đà, linh dương, đà điểu, linh cẩu.

Nhiều cái tên Ả Rập của Al-Sūfǐ qua nhiều thế kỷ hiện nay không còn nữa. Nhiều ngôi sao khác được Al-Sūfǐ dịch trực tiếp của Ptolemy, ví dụ “miệng cá phương Nam”.

Một thành tựu nổi bật của thiên văn học Ả Rập là kính đo vị trí thiên thể, một phát minh tương tự phỏng cầu Hi Lạp, nhờ đó tính toán được vị trí của chúng trên thiên cầu.

Từ thế kỷ X, việc dịch công trình của Ptolemy được lan ra toàn châu Âu bởi sự xâm lược và thống trị của Ả Rập sang tiếng Latinh – ngôn ngữ của khoa học hiện nay. Tại Toledo có một bản dịch trong thế kỷ XII, từ đó lan khắp châu Âu, không chỉ toán học mà cả các khoa học khác, từ tiếng Hi Lạp được dịch sang tiếng Ả Rập, rồi từ tiếng Ả Rập dịch sang tiếng Latinh và được lan truyền ra toàn châu Âu vào thời trung cổ nên chứa đựng trong nó những ngôi sao bằng tiếng Ả Rập và tiếng Hi lạp.

Mở rộng 48 chòm sao của Ptolemy

Thời trung cổ, những cuộc thám hiểm được tiến hành ồ ạt, những nhà thiên văn học lái sự chú ý của mình đến những vùng mà bấy giờ chưa được đánh dấu trên thiên cầu nam do nó luôn nằm ở phía dưới đường chân trời ở thời Hi lạp cổ đại, với 3 tên tuổi nổi bật vào thời kỳ này là Petrus Plancius (1552-1622) – một giáo sư thiên văn học và bản đồ học người Hà Lan, với cái tên Latinh là Pieter Platevoet và 2 tên tuổi còn lại cũng là người Hà Lan là Petrus Theodorus hoặc Peter Theodore và Frederick de Houtman (1571-1627).

Do thám bầu trời phương Nam

Plancius theo chỉ dẫn của Keyser tiến hành những quan sát để điền vào những khu vực chống xung quanh thiên cực nam. Keyser đi trên con tàu Hollandia và Mauritius, 2 trong số 4 con tàu khởi hành từ Hà Lan trên hành trình buôn bán và thám hiểm vùng Đông Ấn và cập cảng Mađagaxca. Keyser là một con người khá thành thạo thiên văn và toán học. Học giả Hà Lan A.J.M.Wandes trong cuốn sách In the Realm of the Sun and stars đã miêu tả những quan sát của Keyser, sau đó được bàn giao lại cho Plancius. Keyser chết vào tháng 9/1596 trên hành trình tại Bantam (hiện nay là Banten – một địa danh gần Java). Danh sách của ông để lại gồm 135 ngôi sao được trao cho Plancius khi chuyến tàu này quay trở lại Hà Lan một năm sau đó. Đáng tiếc là có quá ít tài liệu nói về cuộc đời và sự nghiệp của Keyser, nhưng tên tuổi của ông đã được ghi danh trên bầu trời.

Những ngôi sao của Keyser được chia thành 12 chòm sao mới, nó xuất hiện lần đầu tiên trên quả cầu của Plancius và 2 năm sau đó là trên quả cầu của nhà bản đồ học Hà Lan Jodocus Hondius. Những ngôi sao này được chính thức công nhận bởi Johann Bayer – một nhà thiên văn học người Đức trong cuốn sách Uranometria xuất bản năm 1603, một bản đồ sao có giá trị hàng đầu khi đó. Những quan sát của Keyser cũng được xuất bản trong cuốn sách Rudolphine Tables của Johannes Kepler năm 1627. Đáng tiếc là bản thảo gốc của Keyser đã mất nên chúng ta không biết được liệu Keyser có phân loại những ngôi sao của mình thành 12 ngôi sao hay không hay là một người khác như Plancius.

Hạm đội Hà Lan, nơi mà Keyser là thuyền trưởng sau đó được trao cho nhà thăm dò Cornelis de Houtman, một trong những thủy thủ của ông là em trai ông là Frederick de Houtman – người đã giúp đỡ Keyser rất nhiều trong những quan sát của ông. Trong cuộc thám hiểm lần 2 vào năm 1598, Cornelis bị giết và Frederick bị bỏ tù ở phía Bắc Xumatra. Frederick đã tiến hành quan trắc và học tiếng Mã lai trong 2 năm bị cầm tù.

Từ danh sách những ngôi sao phương Nam của De Houtman, nó được chia thành 12 chòm sao thể hiện trên quả cầu của Plancius và Hondius, và được sử dụng bởi nhà bản đồ học Hà Lan Wiliem Janpzoon Blaeu được công bố vào năm 1603. Keyser và Houtman được cho là đồng phát minh của 12 chòm sao phương Nam mà chúng ta vẫn sử dụng ngày nay.

Nhưng dù sao đi nữa, Plancius cũng phát minh ra một số chòm sao cho riêng mình, trong số đó là Thiên Cáp mà ông đưa ra gồm 9 ngôi sao mà trước đó Ptolemy đưa vào trong chòm sao Đại Khuyển, cùng với những chòm sao Kỳ Lân, Lộc Báo gồm những ngôi sao sáng khá yếu ớt mà không được liệt kê trong danh sách của Ptolemy.

Lấp đầy những lỗ hổng còn lại trên thiên cầu

Do độ chính xác trong các quan chắc thiên văn ngày càng được cải thiện mà những ngôi sao sáng yếu ớt được vẽ lên bản đồ sao, tạo điều kiện cho những nhà canh tân giới thiệu những chòm sao mới, thậm chí trên những vùng trời chưa từng được biết đến trong thời Hi lạp cổ đại. 10 chòm sao mới được giới thiệu vào cuối thế kỷ XVII bởi nhà thiên văn học Ba Lan Johannes Hevelius (1611-1687) đã lấp đầy những lỗ hổng còn lại trên thiên cầu Bắc. Chúng bao gồm những ngôi sao được ông ghi chép vào năm 1687 và được vẽ lên bản đồ sao kèm theo của ông mang tên Firmamentum Sobiescianum. Cả 2 đều được xuất bản sau khi ông qua đời vào năm 1690. Đặc biệt, Hevelius đã cố gắng quan sát bằng mắt thường, mặc dù những kính thiên văn thời bấy giờ là rất sẵn. Nhiều ngôi sao trong số đó sáng rất yếu ớt nhưng vẫn nhìn thấy được thông qua thị lực phi thường của ông. Trong số 10 chòm sao mà ông giới thiệu có 7 chòm sao được các nhà thiên văn học chấp nhận là:

và 3 chòm sao không được chấp nhận là Cerberus, Mons Maenany và Tam Giác Nhỏ.

Mặc dù các chòm sao phương Bắc đã đầy đủ, nhưng vẫn còn những lỗ hổng trên bầu trời phương Nam. Nó đã được điền đầy bởi nhà Thiên văn học người Pháp Nicolas Louis de Lacaille (1713-1762) trên đường đi thám hiểm Nam Phi năm 1750. Tại đó, ông dựng một đài quan sát thiên văn cỡ nhỏ tại mũi Hảo Vọng (nay là vùng Cape Town) dưới chân núi Table – một địa điểm để lại cho ông nhiều ấn tượng và sau này, ông đã lấy địa điểm này để đặt tên cho 1 chòm sao – chòm sao Sơn Án. Tại Mũi Đất, từ tháng 8/1751 đến tháng 7/1752, Lacaille đã quan sát được vị trí của gần 10000 ngôi sao, một việc làm đáng kinh ngạc trong một khoảng thời gian khá ngắn.

Sau khi trở về Pháp năm 1754, Lacaille đã giới thiệu một bản đồ sao phương Nam với Viện hàn lâm Hoàng gia Pháp, trong đó ông giới thiệu 14 chòm sao mới được ông đặt tên:

Một bản sao của nó được xuất bản trong Mémoires của Viện hàn lâm năm 1756 và nó nhanh chóng được các nhà thiên văn khác chấp nhận.

Trong khi phần lớn những chòm sao của Keyser và Houtman được đặt tên những loài động vật ngoại lai thì Lacaille lại đặt tên những chòm sao của mình để kỷ niệm những phát minh khoa học, hội họa, âm nhạc. Ngoại trừ chòm sao Sơn Án – tên trước đây của núi Table nơi mà ông thực hiện những quan sát. Danh sách đầy đủ của ông và một bản đồ sao với tên các chòm sao theo tiếng Latinh được xuất bản sau khi ông qua đời năm 1763 với tiêu đề Coelum Australe Stelliferum. Trong danh sách này, ông chia chòm sao Argo Navis – tên một con tàu thành 3 chòm sao: Thuyền Để, Thuyền Vĩ, Thuyền Phàm mà ngày nay chúng ta sử dụng.

Kể từ thời Lacaille về sau này, tất cả những ai cố gằng làm sai lệch các chòm sao đều không thành công, nhưng nhiều nhà thiên văn học vẫn cố gắng để thử. Rất nhiều chòm sao được nhà thiên văn học người Đức Johann Elert Bode (1747-1826) giới thiệu trong bản đồ sao Uranogphia xuất bản năm 1801, nhưng chúng nhanh chóng bị lãng quên sau đó. năm 1899, nhà sử học Mỹ R.H.Allen đã viết trong sách Star Name and their Meaning: “Từ 80-90 chòm sao là được hiện nay ít nhiều được thừa nhận”.

Ấn định 88 chòm sao

Một thiếu sót lớn là vẫn chưa đưa ra ranh giới chung thống nhất giữa các chòm sao. Từ thời Bode, ông đã dùng những dấu chấm ngoằn nghoèo để phân định ranh giới giữa những chòm sao. Tuy nhiên nó không được thống nhất từ bản đồ này sang bản đô khác. Vấn đề đó chỉ được thống nhất qua một Hiệp hội Thiên văn học quốc tế (IAU).

Tại phiên họp toàn thể đầu tiên năm 1922, IAU đã chính thức chấp nhận danh sách 88 chòm sao bao trùm toàn bộ bầu trời mà ngày nay chúng ta đang sử dụng. IAU trao trách nhiệm cho nhà thiên văn học người Bỉ Eugène Delporte (1882-1955) vẽ đường ranh giới giữa các chòm sao.

Để thuận tiện cho công việc của mình, nhà thiên văn học người Mỹ Benjamin Apthorp Gould (1824-1896) vào năm 1877 đã phân định ranh giới các chòm sao phương Nam trên tấm bản đồ Uranometria Argentina. Delporte vẽ ranh giới các chòm sao bằng đường thẳng theo đường xích kinh và xích vĩ của năm 1875. Ranh giới đó đảm bảo tất cả những ngôi sao biến đổi ở lại trong chòm sao trên đường di chuyển của chúng, Delporte đã sửa đổi một số đoạn của Gould, đặc biệt sử dụng đường chéo.

Công trình của Delporte, được IAU phê chuẩn năm 1928 và được xuất bản vào năm 1930 trong cuốn sách Délimitation Scientifique des Constellations – một hiệp ước quốc tế trong sự phân định ranh giới bầu trời mà tất cả các nhà thiên văn học quốc tế phải tuân theo.

Như vậy, những chòm sao bây giờ được quan tâm không phải là những ngôi sao riêng lẻ mà là một vùng trên bầu trời, tương tự như những quốc gia trên Trái Đất. tuy nhiên không giống như trên Trái Đất, bản đồ bầu trời là bất biến.

Tên Gọi Của Bạn Có Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Ra Sao? (P.3) / 2023

Mỗi người chúng ta sinh ra trên đời đều có một cái tên. Cái tên là dấu ấn của cá nhân, gia đình, dòng họ, quê hương, xã hội và cả những ước vọng của người đặt tên gửi gắm vào trong ấy. Hiểu được cái tên của chính mình, một người có thể thấu hiểu nỗi lòng mẹ cha, trân quý sinh mệnh bản thân và hướng về những giá trị nhân sinh cao đẹp. Chuyên mục Văn Hoá – Thời báo Đại Kỷ Nguyên trân trọng gửi đến quý độc giả loạt bài phân tích, bình giải nội hàm văn hoá của những cái tên Việt, với hy vọng đồng hành cùng các bạn trên con đường tìm lại bản ngã tiên thiên thuần tịnh.Ngày nay, việc đặt tên cho con đã trở thành một nỗi trăn trở của bao gia đình Việt. Phần vì ai cũng muốn tìm cho con một cái tên tốt đẹp, hợp “phong thuỷ”, có thể phát huy sở trường, tiết chế sở đoản; phần vì đôi khi những ý kiến khác biệt của cha mẹ, ông bà về cách đặt tên cũng dẫn tới mâu thuẫn.

Cái tên được chọn có khi không vừa lòng tất cả thành viên trong gia đình, thậm chí không vừa lòng cả chủ nhân của cái tên ấy (khi “bé” lớn lên). Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng mỗi cái tên đều là duyên phận Trời ban, và nếu như mỗi người chúng ta bỏ công tìm hiểu nội hàm văn hoá truyền thống đằng sau nó, tu dưỡng bản thân theo đức hạnh mà cái tên ấy truyền tải… thì ai cũng có thể đạt tới nhân sinh hạnh phúc.

8. Bình (chữ Hán: 平)

“Bình” 平 nghĩa là công bằng, công chính, không thiên lệch, yên ổn, điều hoà. Tên Bình vì thế chỉ người chí công vô tư, biết phân định đúng sai, tính khí ôn hoà, biết điều phối công việc, có thái độ bình tĩnh an định trước cuộc đời.

Tên nam giới thường dùng chữ Bình với nghĩa là dẹp yên, sửa trị. Theo quan niệm Nho gia truyền thống, người quân tử phải biết “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Sách Đại học viết:

“Xét sự vật cho cùng lẽ rồi thì sự hiểu biết mới đạt đến đích, hiểu biết thấu đáo rồi thì điều mình suy nghĩ mới được chân thành (thành ý).

Điều mình nghĩ có chân thành thì lòng mình mới ngay thẳng (chính tâm), lòng có ngay thẳng thì bản thân mới tu dưỡng và rèn luyện được (tu thân).

Tu dưỡng và rèn luyện bản thân được rồi thì mới sửa sang, sắp xếp việc nhà (tề gia). Sắp xếp việc nhà được rồi thì mới lo liệu cho đất nước (trị quốc). Lo liệu cho đất nước được thì thiên hạ mới yên ổn (bình thiên hạ)”.

Lê Lợi khi phất cờ khởi nghĩa chống giặc Minh từng xưng là “Bình Định vương”. Ông sinh ra trong gia tộc nhiều đời làm quân trưởng ở Thanh Hoá, lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan. Tướng nhà Minh biết tiếng ông, đã trao cho chức quan để dụ theo, nhưng ông không chịu khuất phục. 3 tiếng “Bình Định vương” thể hiện rõ nét ở đoạn sử sau trong sách Lam Sơn thực lục: “Nguyên trước nhà vua kinh doanh việc bốn phương, bắc đánh giặc Minh, nam đuổi quân Lào, mình trải trăm trận, đến đâu được đấy”.

Trong khi đó, tên nữ giới thường dùng chữ Bình trong nghĩa yên bình, bình hòa, với mong ước một cuộc đời yên vui, đồng thời biết trân quý và gắng sức dựng xây, gìn giữ cuộc sống bình yên như trong câu thơ:

“Thái bình nên gắng sức,

Non nước ấy ngàn thu”.

(Trần Quang Khải)

9. Hiển (chữ Hán: 顯)

“Hiển” 顯 nghĩa là rõ ràng, sáng tỏ, vẻ vang, vinh diệu, như trong “hiển đạt”, “quý hiển”, “vinh hiển”.

Chữ Hiển 顯 gồm có bộ Hiệt 頁 (đầu) ghép với chữ Nhật 日 (mặt trời), hai chữ Yêu 幺(bé nhỏ) và bốn chấm Hoả (灬), có nghĩa là những đồ trang sức nhỏ bé trên đầu sáng rực rỡ như mặt trời, như lửa, biểu thị người hiển đạt, vinh hiển.

Hiếu Kinh có viết: “Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu, hiếu chi chung dã”, nghĩa là: Lập thân hành đạo, rạng danh ở đời sau, làm vẻ vang cha mẹ, (đó) là tận cùng của hiếu. Chẳng thế mà Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan từng có thơ rằng:

“Nam nhi tự hữu hiển dương sự,

Khẳng tác ngang tàng nhất trượng phu”.

Dịch nghĩa:

Nam nhi tự có chí làm vẻ vang cho cha mẹ

Muốn làm một kẻ trượng phu khí phách hiên ngang.

Nhà Nho xưa cũng quan niệm rằng, khi gặp thời thì đem tài năng ra phục vụ đất nước (Hiển), còn nếu chính sự thối nát thì đi ở ẩn để giữ gìn tiết tháo trong sạch (Tàng). Ngô Thì Nhậm có bài thơ “Mừng bạn” chứa hai chữ “hiển tàng” này như sau:

“Khang tế đại thần phi độ ngoại,

Hiển tàng quân tử chính thời trung”.

Dịch nghĩa:

Giúp dân yên vui, bậc đại thần không ngoài bổn phận

Xuất hay xử, người quân tử phải xử đúng thời.

10. Phong (chữ Hán: 豐, 峰, 風, 鋒, 楓)

Tên Phong trong tiếng Việt thường mang các sắc nghĩa: phong phú (豐), ngọn gió, phong thái (風), đỉnh núi (峰), sắc nhọn (鋒), hay cây phong (楓).

Chữ Phong 豐 nghĩa là đầy đủ, to lớn, tốt tươi, được mùa, sung túc; ví như trong: “phong phú” (dồi dào), “phong y túc thực” (ăn no mặc ấm), “phong công vĩ nghiệp” (công to nghiệp lớn).

Chữ Phong 豐 phía dưới có bộ Đậu 豆, phía trên là hình mầm đậu, hạt đậu đang nảy mầm đầy đặn, phong mãn, có thể đặt tên cho cả nam và nữ.

Trong lịch sử phương Đông, có một vị Thánh nhân danh chấn thiên hạ mang tên Phong 豐, đó chính là Trương Tam Phong – tổ sư phái Võ Đang, người sáng lập ra Thái Cực Quyền.

Tương truyền, Trương Tam Phong từng tham gia thi cử, tìm kiếm công danh. Tuy nhiên, sau cuộc gặp gỡ với một vị Đạo trưởng họ Khâu, Trương Tam Phong bỗng ngộ ra: “Phú quý như cặn bã cỏ rác, năm tháng thời gian lại nhanh giống như tia chớp vậy. Điều quý giá nhất của đời người là tìm kiếm đại Đạo”. Thế là, từ đây Trương Tam Phong quyết định từ bỏ con đường danh lợi, ngao du bốn biển, thăm hỏi minh sư.

Sau này, khi Trương Tam Phong đã đắc Đạo thành Tiên, Hoàng đế nhà Minh nhiều lần thỉnh cầu gặp mặt nhưng ông vẫn nhất mực ẩn cư. Biết được Minh Thành Tổ cầu xin bí kíp trường sinh bất lão, Trương Tam Phong đã hồi đáp bằng một bài thơ, tạm dịch như sau:

“Trời đất giao hòa tạo hóa công, Quốc gia thịnh trị Đạo hanh thông. Hoàng Cực Điện kia rồng hổ tĩnh, Trống chuông văng vẳng vượt tầng không.

Thần nơi hoang dã là vô dụng, Vua hỏi tiều phu ấy hữu tình. Dám đem lời mọn phiền Thánh đế, Thanh tâm quả dục phép trường sinh”.

Các chữ Phong còn lại lần lượt là:

Chữ Phong 鋒 gồm bộ Kim 金 (vàng, kim loại) và chữ Phong 夆 (đỉnh núi – chữ cổ), có nghĩa là mũi nhọn, sắc nhọn, sắc bén. Chữ này vẫn được dùng trong tiếng Việt như trong các từ: tiên phong, xung phong, tiền phong… Do đó, nó thường để đặt tên cho nam giới.

Chữ Phong 峰 gồm chữ Sơn 山 (núi) và chữ Phong 夆 (đỉnh núi – chữ cổ), có nghĩa là đỉnh núi, mỏm núi, đỉnh cao. Tiếng Việt hiện nay ít dùng, chỉ còn trong tên núi như Tây Phong Lĩnh, hay thành ngữ “Đăng phong tạo cực” (Lên đến đỉnh cao (sự nghiệp)). Chữ này cũng thường dùng cho nam giới.

Chữ Phong 風 nghĩa là gió, phong thái, phong khí, phong tục. Chữ này có thể dùng đặt cho tên cả nam và nữ, hàm ý phong thái, phong độ, thuần phong mỹ tục.

Chữ Phong 楓 nghĩa là cây phong – một loài cây đẹp, xuân nở hoa từng chùm như những trái bóng tròn, thu về lá chuyển màu đỏ rực, vì thế xưa thường được trồng trong cung vua. Chữ này đặt tên cho nữ. Hình ảnh cây phong rất thi vị trong câu thơ của Nguyễn Du:

“Người lên ngựa, kẻ chia bào,

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”.

(Truyện Kiều)

11. Phương (chữ Hán: 方 hoặc 芳)

“Phương” 方 nghĩa là ngay thẳng, chính trực, như trong “chân phương”, “phương chính”. Phương còn có nghĩa là đạo lý lễ nghĩa. Chữ phương này thường để đặt tên cho nam giới.

Đạo Đức Kinh có viết: “Thị dĩ Thánh nhân phương nhi bất cát, liêm nhi bất quế”, nghĩa là: Như thế bậc Thánh nhân chính trực mà không làm thương tổn người, có góc cạnh mà không làm hại người.

Triều nhà Nguyễn, nước Việt Nam có một vị đại thần trung liệt tên Phương, đó chính là Nguyễn Tri Phương (chữ Hán: 阮知方). Ông vốn tên là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu Đường Xuyên, xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc. Nhà nghèo lại không xuất thân từ khoa bảng nhưng nhờ ý chí tự lập, ông đã làm nên cơ nghiệp lớn. Nguyễn Tri Phương là Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lại quân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873). Thành Hà Nội thất thủ, bị quân Pháp bắt giữ nhưng ông đã cự tuyệt hợp tác và tuyệt thực tới chết. Danh tiếng của ông vang mãi tới ngày hôm nay.

Tên Tri Phương là do vua Tự Đức đặt cho ông, có xuất xứ từ Luận ngữ như sau:

“Tử Lộ suất nhĩ nhi đối viết: ‘Thiên thặng chi quốc, nhiếp hồ đại quốc gia gian, gia chi dĩ sư lữ, nhân chi dĩ cơ cận, Do dã vi chi, tỷ cập tam niên, khả sử hữu dũng, thả tri phương dã'”.

Dịch nghĩa:

Tử Lộ trả lời ngay: “Quốc gia có ngàn cỗ chiến xa, nằm giữa 2 quốc gia lớn, bên ngoài bị uy hiếp quân sự, bên trong gặp thiên tai mất mùa đói khổ, nếu để Do (tức Tử Lộ) này trị sửa, 3 năm sẽ khiến bách tính đều dũng cảm, lại biết đạo lý lễ nghĩa”.

Còn chữ “Phương” 芳 gồm bộ Phương 方 và bộ Thảo đầu 艹 kết hợp lại thì có nghĩa là mùi thơm của cỏ hoa, cỏ thơm, cũng có nghĩa là tiếng thơm, đức hạnh và tốt đẹp. Ví dụ như trong: “phương thảo” (cỏ thơm), “phương danh” (tiếng thơm), “phương tư” (dáng dấp xinh đẹp), “lưu phương bách thế” (để tiếng thơm trăm đời). Chữ Phương 芳 này có thể đặt cho cả nam và nữ, xuất hiện trong bài thơ Đường “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu:

“Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu”.

Trích bản dịch của Khương Hữu Dụng:

Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,

Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời.

Hoàng hôn về đó, quê đâu tá?

Khói sóng trên sông não dạ người.

(Còn tiếp…)

Thanh Ngọc – Nam Phương

12 Chòm Sao Thích Được Người Ấy Gọi Với Cái Tên Thân Thương Trìu Mến Nào? / 2023

13:11 21/03/2020

Xếp hạng 4.6/5 với 20 phiếu bầu

Luôn có một số tên đặc biệt giữa các cặp vợ chồng hay những đôi đang yêu nhau để thể hiện sự khác biệt cũng như gắn kết mối quan hệ giữa hai người với nhau. Có những biệt danh rất duyên dáng, đáng yêu nhưng có những cái tên lại vô cùng lầy lội,… Và sau tất cả, chúng đều đại diện cho vị trí của nửa kia trong trái tim bạn.

Mật ngữ 12 chòm sao bật mí, Bạch Dương thích gọi người khác bằng người thân yêu, để thu hẹp khoảng cách giữa hai người và tạo thêm sự gán bó mật thiết cho đôi bên, điều đó không có gì lạ.

2. Kim Ngưu: Cún con

12 chòm sao thích được gọi là gì? Kim Ngưu là người hướng ngoại. Họ muốn đặt cho nửa kia một cái tến cực kì cute, đáng yêu. Vì vậy, những chú trâu luôn sử dụng cụm từ “cún con” để gọi người ấy trong mỗi cuộc trò chuyện. Biệt danh này giúp cho hai bạn có thêm những khoảnh khắc ngọt ngào, lãng mạn khi bên nhau.

3. Song Tử: Bé

Lịch vạn niên cho hay, Song Tử rất bướng bỉnh và luôn nghĩ về việc ở bên kia suốt 24 giờ mỗi ngày. Khi bạn trò chuyện với cung hoàng đạo này, họ thích được gọi bằng “bé” để thể hiện sự thân thiết trong mối quan hệ của hai người.

4. Cự Giải: Tên

Cự Giải tin rằng mối quan hệ thân thiết giữa hai người là riêng tư. Giải mã tình yêu 12 cung hoàng đạo, họ không muốn người khác thấy cuộc trò chuyện thân mật của mình với người yêu.

Đối với Giải Giải, không quan trọng người kia gọi mình là gì, chỉ cần tình cảm ấy chân thành là đủ. Do đó, gọi bằng chính tên của họ là cách đơn giản nhất bạn có thể dùng.

5. Sư Tử: Ngốc

Sư Tử thích được gọi họ là “ngốc” khi trò chuyện với người yêu. Họ là những người hướng ngoại và rất hài hước nên cái tên này phù hợp với tính cách của cả hai. Đó cũng là một cách để tăng cường tình cảm của đôi bên.

6. Xử Nữ: Chồng và vợ

Xem bói tử vi, Xử Nữ rất coi trọng tình cảm của đối phương. Một khi đã yêu nhau, họ luôn xác định bên kia là nhất, vì vậy Xử Nhi cảm thấy rằng gọi vợ – chồng sẽ thân mật và gắn kết tình cảm đôi bên hơn.

7. Thiên Bình: Đơn giản hóa thành một từ

12 chòm sao thích được gọi là gì? Thiên Bình không thích đặt quá nhiều biệt danh cho người yêu khi trò chuyện. Họ vui vẻ và thích gọi người yêu bằng một từ đơn giản nhất, có thể là từ viết tắt của tên. Bình Nhi nghĩ rằng điều này đặc biệt dễ thương.

8. Hổ Cáp: Cún

Hổ Cáp rất hài hước và rất hướng ngoại, và luôn tạo ra những điều độc đáo ở bên người yêu. Cung hoàng đạo này thích nói về những điều thú vị của riêng mình, và sẽ gọi người ấy là “cún”.

9. Nhân Mã: Người thương

Nhân Mã thân mến thích được nửa kia gọi với cái tên thân mật “người thương” Đối với những chú ngựa, danh hiệu này là một biểu hiện tự nhiên của tình cảm sâu sắc của hai người.

10. Ma Kết: Tên

Những người thuộc cung hoàng đạo Ma Kết thích gọi trực tiếp tên của người khác, có lẽ nhiều người nghĩ rằng điều này là kỳ lạ, nhưng họ nghĩ rằng đây là một điều rất bình thường. Tình cảm cũng trở tốt đẹp hơn khi được người yêu quan tâm, trân trọng.

11. Bảo Bình: Béo

12 chòm sao thích được gọi là gì? Bảo Bình yêu chiều sâu, luôn sử dụng biệt danh “béo” để trò chuyện với người thân yêu, là một biểu hiện tốt của tình cảm, chứng tỏ bạn rất có trọng lượng trong trái tim người ấy.

12. Song Ngư: Bé ngốc

Song Ngư luôn tích cực, tràn đầy năng lượng và cũng không kém phần lãng mạn trong tình yêu. Họ thích được gọi với cái tên “bé ngốc” bởi cái tên ấy không chỉ thể hiện sự đáng yêu mà còn chứng tỏ người ấy dành rất nhiều tình cảm cho bạn.

Ý Nghĩa Tên Của Các Chòm Sao / 2023

Ý nghĩa tên của các chòm sao

Ý nghĩa của các biểu tượng và tên gọi 12 chòm sao trong thuật chiêm tinh phương Tây: 1. Sao Bạch Dương (Aries, sinh từ 21/3 đến 19/4) Athamas, vua xứ Croneus có con trai Phrixus và con gái Helle với người vợ đầu Nephele. Như các vị vua khác ham mê nhan sắc, khi chán vợ, Athamas đuổi Nephele đi để cưới Ino, con gái của Cadmus vua xứ Thebes. Có 2 con với nhà vua, Ino ghen với con của Nephele và tìm cách để con mình kế vị ngôi báu. Lúc đó bắp là mùa màng chính của xứ Croneus cho người và thú vật. Ino làm cho bắp không nảy mầm bằng cách kín đáo thuyết phục phụ nữ của vương quốc rang nó lên trước khi gieo trồng đồng thời hối lộ cho nhà tiên tri được nhà vua sai đi hỏi các vị thần về hiện tượng này để ông ta nói dối rằng, hai con của Nephele chính là nguồn gốc hiểm họa. Nhà vua phải tế thần họ thì mùa màng mới trở lại. Thương con, nhưng để cứu đất nước, nhà vua theo lời khuyên này. May mắn, lo cho sự an toàn của con, Nephele đã phái một người bảo vệ đội lốt con cừu có lông bằng vàng gọi là Aries (Bạch Dương) do Thần Zeus tặng cho bà. Ngày tế lễ đến, con cừu thúc Phrixus và Helle ngồi trên lưng và bỏ chạy băng qua đại dương nhưng chẳng may Helle bị rơi chết ở biển (nơi nàng chết được gọi là Hellesponte). Phrixus sống sót và cưới con gái của vương triều Colchis. Để cám ơn Zeus, chàng tế lễ con cừu và treo bộ lông cừu ở vị trí đặc biệt tại Colchis. Còn Zeus thì treo Aries trong bầu trời để tôn vinh lòng can đảm của con vật. 2. Sao Kim Ngưu (Taurus, 20/4 đến 20/5) Zeus, chúa tể của các vị thần có tật mê phụ nữ – cả con người lẫn thần thánh. Nhưng vì bị vợ Hera theo dõi dữ quá nên ông thường đổi dạng thành thú vật để có thể đến với người đàn bà mình chọn một cách dễ dàng. Ngày nọ, Zeus để mắt đến người tớ gái xinh đẹp Europa khi nàng đang chơi đùa với bạn bè ngoài bờ biển. Để các cô gái không sợ hãi, ông biến thành con bò trắng Taurus (Kim Ngưu) và dùng vẻ đẹp của con vật làm mê mẩn Europa. Khi nàng ham chơi với con thú, xa dần bạn bè, Zeus nằm xuống cho nàng cưỡi trên lưng lao vào biển cả bất chấp lời kêu cứu của nàng. Đến đảo Crete, Zeus hiện nguyên hình, nhận Europa làm tình nhân và nàng sinh cho ông ba con trai, Zeus treo ảnh của con bò Taurus trên thiên đường, nơi đó đại diện cho tình yêu, sức mạnh và vẻ đẹp. 3. Sao Song Nam (Gemini, 21/5 đến 20/6) Chòm sao thứ 3 trong hệ sao (Zodiac) đại diện cho 2 anh em người anh hùng Hy Lạp. Castor và Pollux, một cặp song sinh mà gốc gác người cha không rõ ràng. Một truyền thuyết cho biết bà Leda, mẹ họ, có nhiều cuộc …