Xu Hướng 3/2024 # Pháp Môn Tu Đạo Thời Bạch Dương (Phật Di Lặc) So Với Pháp Môn Tu Đạo Thời Hồng Dương (Phật Thích Ca Mâu Ni) Có Gì Khác Biệt? # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Pháp Môn Tu Đạo Thời Bạch Dương (Phật Di Lặc) So Với Pháp Môn Tu Đạo Thời Hồng Dương (Phật Thích Ca Mâu Ni) Có Gì Khác Biệt? được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Getset.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

– Xin hỏi Thánh Tăng Hoạt Phật, pháp môn tu đạo thời Bạch Dương (Phật Di Lặc) so với pháp môn tu đạo thời Hồng Dương (Phật Thích Ca Mâu Ni) có gì khác biệt?

– Thời xưa và thời nay tu đạo giống nhau, vì sao Hồng Dương Kì hòa thượng tụng kinh, Bạch Dương kì tu đạo không tụng kinh, vậy có khác biệt ở chỗ nào?

Tế Công Hoạt Phật giải đáp:

– Pháp môn tu đạo thời Hồng Dương (thời đức Phật Thích Ca) và pháp môn tu đạo thời Bạch Dương (hiện nay là Phật Di Lặc) không có gì khác nhau, đạo cổ xưa và đạo ngày nay không có gì thay đổi cả, sao lại có chỗ khác nhau, Đạo vốn không có khác biệt về không gian và thời gian, từ cổ xưa tu đạo là ở nơi tâm, thời nay tu đạo cũng là ở nơi tâm.

– Vào thời Thích Tôn ( Phật Thích Ca) truyền Đạo, là dựa vào “chánh pháp nhãn tàng “, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, đem tâm pháp phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp, rồi tới A Nan là đời tổ thứ hai được truyền, cứ Tổ Sư đời đời tương truyền mà không đoạn tuyệt, sao lại có tụng kinh?

– Thời thế diễn biến không ngừng, nhưng chân lí tuyệt đối không thay đổi, sau khi Thích Tôn ( Phật Thích Ca) nhập Niết Bàn, đạo thống cứ một mạch tương truyền, lí ấy cũng không hề thay đổi.

– Đạo vốn nhất mạch tương truyền, lí ấy cũng duy nhất, trải qua thời gian diễn biến suốt hai ngàn mấy năm, thậm chí xuất hiện các tông phái, tự cho là cái của mình đúng, điều thị phi từ đó mà ra, nên có cách tu khác nhau.

– Ngay cả trong Nhất Quán Thiên Đạo, Thiên Đạo vốn không có gì đổi thay, mà lí cũng chỉ duy nhất, nhưng giữa các nhánh phái vẫn cứ biến chất, thậm chí có người tịnh tọa, xếp bằng, đều không phải tôn chỉ vốn có của Thiên Đạo

– Kinh vốn là bài thuyết pháp của Phật, do đệ tử ghi chép lưu lại, kinh là đường lối, là con đường cho chúng sanh ngộ mà hành, nào có thể miệng tụng mà không thực hành?

– Hành vốn là xuất phát từ nơi tâm, bản thể của Đạo là hồn nhiên nhất lý, cái dụng của Đạo là nhất tâm tự nhiên, nếu có chấp tướng là không phải Đạo đấy.

– Lấy tâm truyền tâm, tâm ấn tâm, ngộ chân lý, hành chân đạo, là chánh pháp, nếu chánh pháp mất, tâm không có cái để ấn, là tướng pháp đấy

– Người theo tướng pháp là chấp về kinh để tu đạo, là ngộ kinh tu đạo, còn người không ngộ kinh, là mạt pháp đấy, nếu mất đi chánh pháp tường pháp trong chân tông, hoàn toàn mất đi tôn chỉ của Phật, chỉ bái lạy Phật thì cho là tu đạo, chỉ nhờ vào Phật thì gọi là tu đạo, vạn kiếp không thể siêu sanh, Phật có nói rõ ràng, các loài chúng sanh, ta đều cho vào “Vô dư Niết Bàn” mà cho diệt độ, nhưng thực tế không có chúng sanh được diệt độ, tại sao vậy? Nếu bồ tát có ngã tướng, nhân tưởng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức không phải là Bồ Tát

Giải Thích Về Pháp Môn Bạch Dương

Sư Tôn Thiên Nhiên Cổ Phật Từ Huấn

, Phật Đà 49 năm thuyết pháp, cũng chỉ nói về cái Không mà thôi, phá trừ ngã chấp mới có thể đạt tới cái Không mà nhất chỉ điểm của thầy dĩ nhiên sẽ siêu sanh, nhưng người tu hành cần tiếp tục phá bỏ đi túc tập của lũy thế, bỏ đi phiền não trướng, nếu không thì vẫn không thể siêu sanh liễu tử, vẫn còn luân chuyển trong luân hồi.

Thời thời thường phất thức,

(Thân là cây bồ đề, tâm như đài gương sáng, luôn luôn phải lau chùi, chớ để bụi bám dơ).

Loại người này vẫn còn cái “Có” về thân và tâm , đã rơi vào “Thường”, là có sự đoạn diệt, mà đoạn diệt là do nhân duyên hợp lại mà thành, không hiểu tánh nên mới có danh tướng

Tức là đã bước vào cảnh giới “Vô” về thân và tâm, mà không còn có đoạn diệt, tu đạo tu tới giai đoạn này, người người đều có thần thông, thần là không thể nghĩ bàn, thông là tự tại vô ngại , không còn chướng ngại, vì vậy đắc được thần thông là do lũy thế nỗ lực tu trì mà có.

Hôm nay phải tinh tấn, trước tiên cần đạt đến giai đoạn không (vô), sau đó lại “có”, thì mới có thể đạt tới trạng thái chân không diệu hữu, vì vậy không qua giai đoạn a la hán không thể chứng bồ tát, do đó phải từng bước tu hành, pháp môn tu hành từ tiểu thừa mà tiến nhập vào đại thừa, bắt đầu tu trì từ nội tâm, có lúc ngôn ngữ thậm chí cũng đều phải bỏ, nhưng cũng không phải là đều không cần dùng tới.

Cái gọi là từ tâm tam muội là duy tâm thức giới , từ tâm thức hạ thủ, chuyển thức thành trí. Phương pháp này là bỏ đi ngã chấp, chúng sanh ngã chấp quá nặng nên không cách nào phá trừ đi. Ngã chấp tức là ngã tướng, cũng tức là nội tâm tồn tại tất cả tri chướng — đối với tất cả tứ phương trên dưới, từ xưa tới nay, lấy vũ trụ quan của chính mình, cho rằng cái biết của chính mình đều là đúng.

Trên thực tế chúng ta chịu sự chi phối vô hình mà không biết, vì vậy ngã trướng không trừ bỏ thì không cách nào đạt đến viên thông, tuy là xả bỏ tất cả để tu đạo, nhưng còn không thể xả bỏ danh lợi, con người vứt bỏ là trên cái hữu vô, mà khiến cho bản thân trở thành nô lệ của danh lợi, chấp trước thị thị phi phi của con người.

Muốn phá trừ ngã chấp phải tồn tâm cảm ơn!

Di Lặc Tổ Sư thừa nguyện hạ thế phổ độ chúng sanh, tương lai sau này muốn trên thế giới thành tựu Phật, Lão Sư Tế Công Hoạt Phật lãnh Thiên Mệnh phổ độ tam bảo, trưởng lý đạo bàn, là một pháp môn kết duyên; mà tu sĩ bạch dương là người đi đầu mở đường, tu đạo liễu duyên.

Người tu đạo đã kết duyên không tốt trong quá khứ, cũng không vì vậy mà oán trời trách người, chỉ cần tận bổn phận của chính mình cũng là đã liễu duyên rồi

Làm thế nào để liễu duyên? Từ “tâm” mà hạ thủ, nhưng nếu như chấp trước tôi có tội, tôi phải liễu tội, cũng là một trướng ngại. Có câu nói: Tội phúc vốn không, tâm có thể tạo nghiệp cũng có thể chuyển nghiệp, nghiệp vốn là không

Người có đức không phải ở tại số tuổi nhiều hay ít, Người có trí tuệ ở mọi nơi đều có thể giác, từ trong quá trình tu đạo giác tế, đạt tới mục tiêu sau cùng của việc tu đạo là sự giác ngộ.

Lúc cầu đạo mỗi người đều đã tự hiểu rõ, nhưng vì tri trướng mà không cách nào ngộ được cái Không, do đó lúc nào cũng phải quán chiếu, từ tiềm ý thức của tâm mà hạ thủ, chuyển bước nhập vào cảnh giới Không, mà còn có thể vô trụ, không còn tồn tại thiện ác phúc tội trong đó, như vậy mới có thể tín tâm duy trì vĩnh hằng, đạo tâm vĩnh bất thối chuyển tiến về phía trước, có thể đồng trợ thiên bàn, hoàn thành đại nguyện tam tào phồ độ

Sự Tích Đức Phật Di Lặc

Nói về đức chắc rằng đại đa số quí vị đều nhớ đến hình tượng của một ông Phật ngồi phạch ngực, mập, bụng to và miệng cười toe toét. Có khi quí vị thấy bên cạnh Ngài có 6 đứa con nít, đứa thì móc lỗ tai, đứa thì móc miệng, đứa thì thọc lét v.v… Những hình tượng đó như là một trò đùa. Mình không biết tại sao lại có chuyện đùa ở trong chùa như vậy. Đó là ý nghĩa chúng ta cần phải biết. Nói đến đức Di-lặc chúng tôi phải khảo lịch sử từ Ấn Độ sang Trung Hoa để quí vị khỏi lầm lẫn. Nhiều tà thuyết bây giờ dựng đức Phật Di-lặc làm chỗ tiêu chuẩn để họ lôi cuốn Phật tử. Đức Phật Di Lặc là tên dịch của thuở xưa. Sau này có dịch ra nhiều tên khác nhưng vì chúng ta đã quen kêu là đức Phật Di Lặc.

Chữ Di Lặc là phiên âm tiếng Phạn, Tàu dịch là Từ Thị (Thị là họ, Từ là từ bi). Có thuyết nói rằng khi bà mẹ của Ngài mang thai Ngài, khởi lòng thương không nỡ giết hại chúng sanh và không ăn thịt cá được cho nên nói là “Từ”. Vì Ngài sanh nơi bà mẹ đó cho nên gọi là Từ Thị. Nhưng có thuyết lại nói khác hơn. Vì thuở xưa Ngài tu về từ bi tam-muội cho nên sau này có tên là Từ Thị. Nhưng tên Ngài là A-dật-đa cũng là tiếng Phạn dịch âm. Dịch theo chữ Tàu là Vô Nan Thắng (Vô là không, Nan là khó) tức là không có thể nào hơn được. Đối với Ngài về trí tuệ và hạnh tu ít người hơn được, nên có tên Vô Nan Thắng. Đó là nói về đức Phật theo thói quen của chúng ta. Nếu nói theo kinh thì gọi là Bồ tát Di Lặc. Hồi đức Phật còn tại thế, Bồ tát Di Lặc là một người có lịch sử sanh ở miền Nam Thiên Trúc, ở trong dòng Bà-la-môn. Sau gặp Phật, Ngài xuất gia, tu theo hạnh Bồ tát. Đó là hình ảnh thật có lịch sử rõ ràng ở Nam Thiên Trúc.

Khảo nhiều kinh, trước hết tôi dẫn kinh A-hàm. Trường A-hàm có nói thế này: Đức Phật dạy rằng sau này ở cõi Ta-bà, tâm con người càng ngày càng ác, mười nghiệp thiện họ bỏ qua mà luôn tạo nhiều nghiệp ác. Cho đến bao giờ họ quí mười nghiệp ác cũng như thuở xưa quí trọng mười nghiệp thiện và tuổi thọ chúng sanh giảm xuống đến cuối cùng còn mười tuổi thì đức Phật Di-lặc ra đời. Khi nghiệp ác nhiều thì tuổi thọ theo đó mà giảm. Bao giờ tuổi thọ con người chỉ còn mười tuổi, cũng như bây giờ tuổi thọ chúng ta coi là một trăm tuổi vậy, thì lúc đó thế giới sẽ có những tai nạn đao binh. Đao binh ở đây không phải là người ta giết chết nhau, mà chính những lá cây cỏ cũng có thể biến thành gươm bén. Chúng ta bị chặt bị cắt mà chết. Qua tai nạn đao binh đó tới tai nạn tật dịch tức là đau ốm bệnh dịch. Vì vậy đại đa số dân chúng trên thế giới này chết mòn chỉ còn sót lại một ít người tu hành ẩn trên núi trên non. Họ còn sống thừa lại. Khi họ sống qua cái thời gian chết đó rồi, họ tìm thấy bà con dòng họ của họ chết hết, chỉ còn sót lại lưa thưa vài người, lúc đó, họ mới biết rằng từ hồi đó tới giờ dòng họ mình làm điều ác, bây giờ mới bị quả báo chết như vậy. Cho nên họ nỗ lực tu mười điều thiện lại. Khi bắt đầu tu mười điều lành thì tuổi thọ họ tăng, cứ một trăm năm thì tăng lên một tuổi. Đến bao giờ tuổi thọ lên đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, lúc đó dân chúng đông đảo thuần hậu, làm lành thì Phật ra đời ở dưới cội cây Long Hoa gọi là hội Long Hoa. Như vậy quí vị tưởng tượng bây giờ chúng ta đang ở cái mức tám mươi tuổi thọ mà cứ một trăm năm giảm xuống một tuổi, giảm tới còn mười tuổi, rồi tăng lên cho đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, thì thời gian từ đây cho tới đó còn bao xa? Theo sách Phật thì khi Phật Thích-ca nhập diệt thì đức Di-lặc cũng nhập Niết-bàn. Ngài sanh lên cung trời Đâu-suất ở trong nội điện sống bốn ngàn tuổi. Sau đó Ngài mới sanh trong thế giới Ta-bà, thành đạo dưới cội cây Long Hoa giáo hóa chúng sanh kế tiếp đức Phật Thích ca. Vậy tưởng chừng bao lâu Phật Di Lặc ra đời? Vậy mà có một số người nghe trong kinh nói đức Phật Di Lặc ra đời nghe nói hội Long Hoa, rồi họ bịa ra ít bữa đức Phật Di Lặc ra đời, vài bữa hội Long Hoa đến v.v… Đó là những tà thuyết để lừa bịp những Phật tử học mà không hiểu Phật pháp, lại có người tự xưng là Phật Di Lặc hoặc tự cổ động rằng mình sẽ chờ đón đức Phật Di Lặc. Quí vị xét, nếu chúng ta tin đức Phật Di Lặc chỉ còn một phen bổ xứ lên cung trời Đâu-suất, sau này hạ sanh ở thế giới Ta-bà thành Phật, nếu tin lời Phật Thích-ca nói trong kinh thì chúng ta phải tin luôn thời gian đã định ngày Phật ra đời. Chúng ta tin đức Phật Di Lặc, có hội Long Hoa mà quên thời gian đó. Rồi cứ hờ hững, cứ nghe ai nói đức Phật Di Lặc ra đời thì vội vàng chạy tới đảnh lễ mong cầu v.v… Đó là cái sai lầm quá lớn để những tà thuyết lợi dụng danh từ Phật giáo tuyên truyền mê tín dị đoan. Người Phật tử chân chánh phải hiểu rõ điều đó. Đó là tôi khảo về lịch sử từ những bộ kinh gọi là Di Lặc thượng sanh, Di Lặc hạ sanh và Di Lặc bản nguyện. Những kinh đó đều do đức Phật Thích-ca nói ra. Coi kỹ những bộ kinh đó rồi, chúng ta biết rõ lịch sử đức Di Lặc, vậy đừng nghe lời của một số người bàn tán, dựng lên những điều sai lầm. Đó là chúng tôi nói về đức Phật Di Lặc ở Ấn Độ.

Bây giờ nói tới đức Phật Di Lặc ở Trung Hoa. Đức Phật Di Lặc sang Trung Hoa hồi lúc nào? Thật ra nếu căn cứ theo hình tượng chúng ta thờ thì không có hình tượng của đức Bồ-tát ở Ấn Độ, mà là hình tượng đức Di Lặc ở Trung Hoa. Đó là một ông già bụng phệ lùn mập, như vậy là đức Di Lặc ở Trung Hoa chớ không phải ở Ấn Độ. Di-lặc ở Trung Hoa ra đời lúc nào? Điều đó chúng ta phải khảo lại. Có nhiều thuyết nói đức Di Lặc hiện giờ đang ở trên cung trời Đâu-suất. Ngài chưa tới thời kỳ giáo hóa chúng sanh ở thế giới này. Nhưng với tinh thần người hiểu Phật giáo Đại thừa thì Bồ-tát có báo thân, ứng thân và nhất là hóa thân. Tùy căn cơ chúng sanh mà các ngài ứng hóa vô lượng thân không thể lường được. Cho nên sử Trung Hoa có kể mà tôi nhớ đại khái có hai hóa thân của Bồ tát Di Lặc. Một hóa thân gọi là Ngài Tăng Can ở gần chùa Quốc Thanh đời nhà Tùy, tức là ở khoảng thế kỷ thứ sáu. Nói rằng Ngài có một cái am gần chùa Quốc Thanh và đi thuyết giáo nơi này nơi nọ. Có lắm lúc Ngài cỡi cọp về, chúng trong chùa thấy hoảng kinh. Khi đến khi đi không ai lường được. Có lần Ngài ôm về một đứa bé gởi trong chùa đặt tên là Thập Đắc. Thỉnh thoảng có một ông ăn mặc rách rưới ở trong núi lạnh đi ra, tuyết phủ đầy mình gọi là Hàn Sơn. Hàn Sơn và Thập Đắc được coi như là hai người ăn mày trong chùa. Các ngài là hai vị hóa ra ăn mặc rách rưới ngủ ngoài hành lang. Tới bữa ăn thì đợi chúng ăn xong hết, còn những thừa cặn gì đó ngài trút lại dùng. Có khi các ngài còn lượm cơm dưới sàn nước, rửa lại mà ăn. Chúng trong chùa coi các ngài như hai kẻ ăn mày không kém, nhưng mà có cái lạ là nhiều khi hai ngài hứng làm thơ. Những bài thơ của các ngài không ai hiểu gì hết. Một hôm bất chợt, sau một bữa trưa chúng tăng nghỉ hết, hai ngài trèo lên cổ của ngài Văn-thù và ngài Phổ Hiền ngồi. Một ông tăng ở dưới tăng xá thình lình đi lên, thấy như vậy ngạc nhiên quá mới chạy đi báo cho ông trụ trì hay. Ông trụ trì lôi hai ông xuống rầy quở đủ thứ hết. Hai vị đó là bạn thân của ngài Tăng Can. Ngài Tăng Can tịch rồi. Một hôm ông chủ huyện có bệnh nan y, ông nằm chiêm bao thấy ngài Tăng Can tự xưng là đức Di Lặc bảo ông đến đảnh lễ Bồ-tát Văn-thù, Phổ Hiền và chỉ cho ông một phương thuốc uống hết bệnh. Muốn đảnh lễ hai vị đó thì vào chùa Quốc Thanh hỏi tên Hàn Sơn, Thập Đắc vì đó là Bồ-tát Văn-thù và Phổ Hiền. Ông huyện đó theo lời chỉ tìm thuốc uống lành bệnh, mới tìm đến chùa Quốc Thanh để gặp hai vị Hàn Sơn, Thập Đắc. Khi đó ông trụ trì thấy ông huyện tới hỏi hai chú ăn mày trong chùa thì ông ngại quá không muốn kêu. Nhưng ông huyện cho biết ông mong mỏi gặp hai vị đó. Buộc lòng ông trụ trì mời hai vị ra. Hai vị nắm tay đi ra. Vừa thấy hai vị ông huyện quì mọp xuống lạy. Hai vị mới cười và nói: “Cái lão Tăng Can bày đặt làm cho ta phải bại lộ rồi.” Hai Ngài, cõng nhau chạy tuốt vô rừng mất. Do đó mới biết hai vị là hiện thân của Văn-thù, Phổ Hiền, còn ngài Tăng Can là hiện thân của đức Di Lặc. Nhưng biết thì chuyện đã rồi, không ai ngờ để đảnh lễ các ngài được hết.

Một vị khác vào thế kỷ thứ mười đời Ngũ đại ở Trung Hoa gọi là Bố Đại Hòa thượng. Vị đó gần gũi chúng ta nhất, tức là ông già quảy cái đãy to tướng, mặt tròn, miệng cười, bụng phệ, áo phạch ngực. Ngài Bố Đại Hòa thượng lúc nào cũng quảy một túi lớn, đi trong nhân gian gặp chỗ nào có cái gì, Ngài xin bỏ vô đãy. Đến chỗ có con nít đông, Ngài ngồi xuống phân chia cho chúng nó, vui chơi với chúng nó. Cho nên người ta thấy miệng Ngài lúc nào cũng cười vui vẻ thích thú. Đó là hình ảnh đức Di Lặc, một vị Hòa thượng bụng lớn, mập, miệng cười toe toét.

Tại sao gọi ngài Bố Đại Hòa thượng là Di Lặc?

Nói rằng Ngài đi xin như vậy có nhiều chuyện xảy ra cho Ngài lạ lắm. Trong sử có nói đủ, ở đây tôi chỉ lược vài điểm thiết yếu cho quí vị biết mà thôi. Ngài đi xin và sống một thời gian như vậy ở tỉnh Minh Châu. Tại đó Ngài lang thang nơi này nơi nọ. Thời đó là thời Thiền Tông còn thạnh hành ở Trung Hoa. Một hôm Hòa thượng Thảo Đường gặp Ngài hỏi: “Đại ý Phật pháp thế nào?” Đang quảy bị trên vai Ngài liền để xuống. Vị Hòa thượng hỏi thêm: “Chỉ có thế thôi hay có con đường tiến lên?” Ngài mang cái bị để lên vai và đi. Đó là câu trả lời của Ngài.

Trong lịch sử Thiền tông, cũng câu hỏi đó, Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền đem ra hỏi Tổ Hoàng Bá liền bị ăn gậy. Ở đây ngài Bố Đại Hòa thượng đối với câu hỏi đó, Ngài chỉ buông cái bị xuống đất. Hỏi có con đường tiến lên nữa không, Ngài mang bị lên vai đi tuốt. Những hình ảnh đó là thế nào? Như vậy mà người ta vẫn chưa biết thế nào, tung tích ra sao? Nhưng một hôm Ngài sắp thị tịch, mới trở về chùa. Ngồi bên bàn thạch Ngài làm một bài kệ rồi tịch. Bài kệ đó như thế này:

Di Lặc chân Di Lặc

Phân thân thiên bách ức

Thời thời thị thời nhân

Thời nhân tự bất thức

Ngài nói rằng: Di Lặc thật Di Lặc. Phân thân trong muôn ức. Thường thường chỉ dạy người đời. Người đời tự không biết. Nhờ bài kệ đó mà người ta mới biết Bố Đại Hòa thượng là hóa thân của đức Di Lặc. Vì vậy muốn vẽ hình đức Di Lặc người ta liền vẽ hình Bố Đại Hòa thượng. Đó là đức Di Lặc ở Trung Hoa. Bây giờ chúng ta thờ phượng là thờ hình ảnh đức Phật đó. Chớ đức Bồ-tát Di Lặc ở Ấn Độ thì mình không biết. Còn đức Di Lặc ở cung trời Đâu-suất lại càng không biết hơn nữa. Chúng ta chỉ biết Di Lặc hóa thân ở Trung Hoa với một hình tượng là Bố Đại Hòa thượng. Đó là phần khảo về lịch sử.

Đây mới nói về ý nghĩa đức Phật Di Lặc, ngày vía mùng một Tết. Ngày vía này là ngày vía gì của đức Di Lặc. Ở Ấn Độ thì không biết ngày nào, ở Trung Hoa hóa thân hai, ba đời, cũng không biết ngày nào. Nói ở cung trời Đâu-suất lại càng không biết hơn nữa.

Như vậy ngày vía Phật Di Lặc là ngày vía gì?

Chúng ta đừng nghĩ rằng phải đợi có ngày sanh ngày tịch mới gọi là ngày vía. Đây là ý nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền. Các Tổ đã khéo léo chọn ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di Lặc. Chúng ta lạy Ngài với câu: Long Hoa Giáo Chủ đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật. Chư Tổ thấy thế gian xem ngày mùng một Tết là ngày định đoạt của suốt một năm. Ngày này mọi người dè dặt từng lời nói, dè dặt từng hành động, dè dặt từng tên người đến thăm mình, dè dặt đủ thứ chuyện. Như vậy ngày mùng một Tết là ngày đầy đủ ý nghĩa của tương lai mình. Trong nhà chùa ngày mùng một Tết có ý nghĩa gì? Các Tổ lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di Lặc cũng là ngày tương lai rực rỡ, ngày tương lai sẽ thành Phật. Sáng mồng một chúng ta lạy Phật, lạy vía đức Di Lặc, là đặt hết cả niềm hy vọng vào tương lai, hy vọng chúng ta sẽ thành Phật. Không hy vọng giàu có sang trọng gì mà chỉ hy vọng sẽ thành Phật. Đó là ý nghĩa sâu đậm nhất của ngày mùng một Tết để chúng ta lễ đức Phật Di Lặc.

Ý nghĩa thứ hai là hình ảnh vui cười của đức Di Lặc. Đó là hình ảnh hạnh phúc. Vì vậy có chỗ thay vì để danh từ Di Lặc lại để một con người hạnh phúc.

Tại sao là con người hạnh phúc? Tới đây tôi bước sang giai đoạn sâu của Thiền tông.

Hỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp?

– Ngài quăng cái bị xuống mà không trả lời gì hết.

Hỏi: Có con đường tiến lên không?

– Ngài quảy bị lên vai mà đi.

Đại ý Phật pháp không có gì lạ. Nói thẳng e quí vị phiền, mà không nói e cho rằng giấu giếm.

Đại ý Phật pháp chỉ có một chữ xả là được. Chấp tức là chấp mình chấp người nhân, ngã, Phật pháp, quyền thế, danh vọng v.v… Như vậy cái mà buông tất cả đó là đại ý Phật pháp. Nói như vậy đó e quí vị khó hiểu.

Tôi nói câu chuyện hơi bình dân một chút mà không kém quan trọng. Tổ Hoàng Bá thấy Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền, một vị Thiền sư cao nhất trong nhà Thiền, giữa quãng đời Đường. Ngài dạy rằng, chỉ cần có một hạnh bố thí là đầy đủ tất cả. Bố thí là cho món này món kia, tức xả hay buông bỏ. Chỉ có một hạnh xả là đầy đủ tất cả. Nói về hạnh tu Sư thúc, Sư bá mình, Ngài phê bình rằng: Trong hàng đệ tử của Mã Tổ, trên tám mươi vị Thiện tri thức, nhưng mà khi nói đến người tiêu chảy, hay nói quê mùa hơn một chút là nếu nói đến con người ỉa chảy, thì chỉ có Hòa thượng Qui Tông là con người ỉa chảy đầy đất. Nói đến ỉa chảy quí vị đừng nghĩ theo lối quê mùa của mình, đó là xả tất cả. Chỉ có Hòa thượng Qui Tông là con người xả được tất cả. Con người xả là con người đáng quí hơn hết.

Như vậy quí vị thấy rõ ràng xả là một pháp khiến cho người đạt đến viên mãn trong đạo, nếu nói theo Thiền tông. Vì vậy sau khi Ngài buông cái túi xuống rồi, hỏi còn có gì nữa không thì, Ngài quảy túi lên vai. Tới đó đừng tưởng rằng hết rồi, mình tưởng không còn gì nữa. Chính buông hết rồi, mình mới được một quảy lên vai tự tại. Cho nên nhà chùa có câu “Bỏ tất cả là được tất cả”. Nhưng nói bỏ tất cả để được tất cả thì mình còn tham quá. Bây giờ chỉ cần bỏ tất cả vậy là đủ rồi. Chính cái hạnh xả đó là chỗ rất sâu và đưa chúng ta tới chỗ cao siêu của người giải thoát. Vì vậy trong nhà Thiền tông nói ta không có một pháp dạy người mà chỉ tùy phương tiện nhổ đinh tháo chốt thôi. Nhổ đinh tháo chốt là xả, là phá chấp. Xả được là xong việc.

Đến đây tôi đi sang giáo lý để quí vị dễ thấy dễ tu hơn. Nói đến xả là nói đến hạnh phúc cho nên quí vị nghe danh từ thường dùng nhất là Hỷ Xả. Hai cái đó cái nào là nhân cái nào là quả. Có thể nói hỷ là nhân, xả là quả, cũng có thể nói ngược lại xả là nhân hỷ là quả. Tại sao vậy? Như hằng ngày có vị nào làm phật lòng mình một chút khiến mình bực bội. Khi bực bội thì không vui. Giờ đây người đó xin lỗi mình, mình liền vui vẻ mới tha được. Còn giận thì không tha được. Trường hợp hỷ là nhân, xả là quả. Vui vẻ mà tha thứ cho họ, như vậy mới là ổn. Giận không thể tha thứ được. Trường hợp đó hỷ là nhân. Bởi vì mình vui nên mình mới xả, mới được cái quả xả. Nhưng ở đây nói con người hạnh phúc đó phần lớn xả là nhân hỷ là quả. Bởi vì chúng ta có xả được chúng ta mới vui. Nếu chúng ta không xả được thì chúng ta không bao giờ vui được. Tôi nói một việc hết sức là tầm thường, như trong gia đình quí đạo hữu, người chồng làm phật ý người vợ, trong lúc phật ý thấy nhau có vui không? Không nói chuyện nhau, không nhìn mặt nhau. Bao giờ xả được thì lúc đó mới vui vẻ nói chuyện được. Như vậy trường hợp đó do xả mà được vui. Nếu không xả thì không vui. Đó là thí dụ nhỏ, tôi thí dụ rộng hơn. Trường hợp chúng ta đối với người ngoài đời hay bè bạn, nếu họ có hành động hiếp mình hoặc có lời nói cao hơn mình. Lúc đó mình làm sao? Mình về mình có an ổn được không? Không vui đó là tại sao? Tại nhớ ông đó nói gác mình, hoặc ăn hiếp mình, ông ỷ mạnh hiếp yếu. Khi nghĩ như vậy thì về nhà ngủ không được, lăn lộn hoài nằm không yên. Muốn được ngủ yên phải làm sao? Nếu mình còn nghĩ rằng người ta ăn hiếp mình, người ta gác mình. Lúc đó mình có cảm thấy vui vẻ hạnh phúc hay không? Chắc không bao giờ có hạnh phúc được hết. Lúc đó mình sống ở trong phiền não ở trong tam độc chứ không có hạnh phúc. Bây giờ người nào mà bỏ được cái đó thật là hạnh phúc. Vì vậy hồi đức Phật còn tại thế, một hôm Ngài đi khất thực ở vùng Bà-la-môn, vị lãnh tụ Bà-la-môn nổi tức đi theo Ngài. Ngài đi trước ông đi theo sau mắng. Ông mắng bao nhiêu mắng Ngài cứ chậm rãi đi. Đi tới ngã tư đường Ngài trải tọa cụ ngồi. Ông chạy tới trước mặt hỏi: “Ngài thua tôi chưa?” Ngài liền đáp bằng một bài kệ:

Người hơn thì thêm oán

Kẻ thua ngủ không yên

Hơn thua hai đều xả

Ấy được an ổn ngủ

Hơn người thì người tức nên oán. Mà người ta oán mình có vui hay không? Thua người về ngủ không được nằm lăn qua trở lại hoài. Như vậy cả hai đều là cội gốc của đau khổ, của phiền não. Thành ra cái hơn cái thua hai cái bỏ phăng đi thì người đó được an ổn ngủ. Tối đến thì nằm xuôi cẳng ngủ khò, không lo không tính, không phiền muộn gì hết.

Đó là người hạnh phúc. Hạnh phúc từ đâu mà có? Từ cái xả mà có, chứ chúng ta cứ ôm ấp phiền não trong lòng hoài thì làm sao mà hạnh phúc được. Quí vị nhớ, nếu trong gia đình chúng ta không xả được cứ giận vợ giận con hoài thì cũng không vui. Ra ngoài xã hội cứ nhớ người này ăn hiếp mình, người kia nói gác mình, người nọ khinh mình, gì gì đó, người ôm trong lòng cả bụng như vậy thì người đó lúc nào cũng đau khổ, lúc nào cũng là phiền não hết. Chỉ người nào nghĩ nói gác mình như gió thổi ngoài tai, rồi ngủ khò không thèm nhớ, thì đó là hạnh phúc chớ gì. Người nào mà trong nhà cũng như ở ngoài gặp cái gì phật ý, xem đó như là lỡ lầm của người không gì quan trọng hết, không có gì phải phiền muộn, người được như vậy mới là con người hạnh phúc.

Đầu năm, chúng ta quen chúc cho nhau, một năm đầy hạnh phúc. Chúc hạnh phúc mà cứ phiền giận hoài thì làm sao mà hạnh phúc được. Như vậy chỉ là một cái chúc suông.

Ở đây tôi không chúc gì cho quí vị hết mà chỉ khuyên: “Năm nay tập tiêu chảy kha khá một chút” chừng nào quí vị tiêu chảy được như ngài Qui Tông lúc đó quí vị sẽ tràn trề hạnh phúc.

Đó là tôi chỉ nói hạnh phúc nho nhỏ của thế gian. Còn nếu nói đến hạnh phúc cao siêu hơn nữa, tức là đạt đến cứu kính giải thoát thì trong kinh cũng dạy chúng ta đừng chấp cảnh, chấp người, đừng chấp tâm, đừng chấp pháp. Nếu chúng ta buông hết những cái chấp đó thì Niết-bàn hiện tại, vĩnh viễn hạnh phúc. Không chấp tức là xả. Xả được mới thật là vĩnh viễn hạnh phúc. Vì vậy nói tới đức Di-lặc là nói tới hạnh hỷ xả nên người Trung Hoa tượng trưng Ngài bằng hình ảnh ngài Bố Đại Hòa thượng, một hình ảnh vui vẻ tươi cười lúc nào cũng sẵn sàng hỷ xả.

Vậy năm nay quí vị lễ đức Phật Di Lặc là nhớ đến hạnh hỷ xả của Ngài, nhớ đến cái miệng vui cười hạnh phúc của Ngài. Nếu quí vị sống được cái hạnh phúc đó thì quí vị chẳng những hạnh phúc ở hiện tại mà hạnh phúc vĩnh viễn của người vào Niết-bàn.

Đó là ý nghĩa sự tích đức Phật Di Lặc mà hôm nay chúng tôi nói.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Phật Di Lặc Là Vị Phật Tương Lai Trong Cõi Ta Bà

Đức Phật Di Lặc theo truyền thống Phật giáo là vị Phật tương lai trong cõi Ta Bà, hiện nay là một vị Bồ tát đang trú ngụ tại thiên đường Tusita. Ngài sẽ xuống thế giới của chúng ta để giảng pháp khi những lời dạy của Đức Phật Thích Ca đã bị phai mờ.

Phật Di Lặc được tất cả các trường phái Phật giáo chấp nhận và là vị Bồ tát duy nhất được tôn kính trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy.

Đức Phật Di Lặc là ai?

Di Lặc (tiếng Phạn: Maitreya, tiếng Pali: Metteyya) là một vị Bồ tát xuất hiện trên trái đất, đạt được giác ngộ hoàn toàn và giảng dạy pháp cho chúng sinh khi những giáo pháp Phật giáo bị lãng quên. Trong một số kinh điển Phật giáo, chẳng hạn như Kinh A Di Đà và Kinh Pháp Hoa, Ngài còn được gọi là Bồ tát A Dật Đa (Ajita).

Phật Di Lặc là biểu tượng tuyệt đối của niềm vui và hạnh phúc. Do đó, nhiều Phật tử gọi Ngài là “Phật cười”. Nụ cười của Ngài lan tỏa giúp hóa giải mọi hận thù, phiền não hay áp lực căng thẳng trong cuộc sống. Trong phong thủy Trung Hoa, người ta tin rằng Phật Di Lặc ở đâu thì hạnh phúc sẽ xuất hiện ở đó. Đảnh lễ hoặc xoa bụng Ngài cũng được cho là mang lại may mắn và bình an.

Theo kinh điển, Phật Di Lặc sẽ là người kế vị của vị Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Buddha), người sáng lập ra đạo Phật. Lời tiên tri về sự xuất hiện của Phật Di Lặc được tìm thấy trong kinh điển của tất cả các trường phái Phật giáo và được hầu hết các Phật tử chấp nhận như là một tuyên bố về một sự kiện thực sự sẽ diễn ra trong tương lai.

Kinh có đoạn: “Bấy giờ Phật nói với Bồ-tát Di-lặc: Này Di-lặc, nay ta đem Pháp giác ngộ vô thượng chính đẳng chính giác đã tập thành trong vô lượng kiếp phó chúc cho ông. Vào thời mạt thế, sau khi Phật diệt độ, ông nên dùng khả năng thần thông để giảng truyền rộng rãi những kinh như vậy nơi cõi Diêm-phù-đề, chớ để bị đoạn tuyệt.”

Lời tiên tri về sự xuất hiện của Phật Di Lặc được đề cập trong văn bản Phạn ngữ, Maitreyavyākaraṇa (Tiên tri Maitreya). Kinh điển viết rằng, các vị thần, con người, và những sinh vật khác sẽ thực hành theo giáo pháp của Đức Phật Di Lặc:

Sự nghi ngờ của họ sẽ biến mất, các ảo tưởng sẽ bị cắt đứt, loại bỏ mọi nguyên nhân gây ra đau khổ để vượt qua đại dương. Họ hướng đến cuộc sống thánh thiện, sung túc và hạnh phúc thông qua lời dạy của Phật Di Lặc.

Vào thế kỷ thứ 10, một nhà sư Trung Quốc có tên là Bố Đại Hòa Thượng (tiếng Hoa: Budai, tiếng Nhật: Hotei) được coi là hóa thân của Bồ tát Di Lặc. Mặc dù một số người đã tự tuyên bố mình là Phật Di Lặc trong những năm sau khi Phật Thích Ca nhập Niết bàn, nhưng không có ai được chính thức thừa nhận bởi Tăng đoàn và Phật tử.

Một điều khó khăn cho những ai tự nhận mình là hiện thân của Bồ tát Di Lặc phải đối mặt là một số dự đoán khá cụ thể của Phật Thích Ca về các sự kiện xảy ra trước khi Phật Di Lặc xuất hiện trên trái đất.

Di Lặc có tên khác là Từ Thị (Maitreya) bắt nguồn từ chữ maitri (tiếng Phạn) hoặc metta (Pāli) có nghĩa là “tình yêu thương” hay “sự thân thiện”. Lời đề cập sớm nhất về Phật Di lặc là trong Cakavatti sutta, Digha Nikaya 26 của kinh Tạng Pali.

Tuy nhiên, Ngài không được đề cập trong các văn bản Pali khác, và điều này làm dấy lên sự nghi ngờ về tính xác thực của vị Phật này. Hầu hết các bài thuyết pháp của đức Phật Thích Ca đều được trình bày ở dạng hỏi đáp, hoặc trong một số ngữ cảnh thích hợp khác.

Nhưng kinh này có một khởi đầu và kết thúc, trong đó Đức Phật đang nói chuyện với các nhà sư về một điều hoàn toàn khác. Điều này khiến các học giả kết luận rằng, một trong hai kinh điển là giả mạo.

Phật Di Lặc đôi khi ngồi trên ngai vàng kiểu phương Tây, và được tôn kính trong cả hai trường phái Phật giáo Đại Thừa và Nguyên Thủy. Một số người cho rằng, nguồn cảm hứng về Phật Di Lặc có thể đến từ vị thần của Ấn Độ-Iran, tên là Mithra.

Theo một cuốn sách mang tựa đề “Tôn giáo của các dân tộc Iran” có đoạn:

Không một ai nghiên cứu Zoroastrian (Hỏa giáo Ba Tư) và các Saoshyants (những vị thần được phái xuống trái đất để thiết lập lại trật tự loài người) mà không nhìn thấy sự giống nhau của họ đối với Phật Di Lặc trong tương lai.

Paul Williams tuyên bố rằng, một số ý tưởng của Zoroastrian như Saoshyant đã ảnh hưởng đến việc thờ cúng Đức Phật Di Lặc, như kỳ vọng vào một người giúp đỡ thiên thượng, sự cần thiết phải lựa chọn cho sự công bình tích cực, thiên niên kỷ tương lai, và sự cứu rỗi phổ quát.

Trong nghệ thuật Phật giáo Gandhara, trong những năm đầu thế kỷ ở miền bắc Ấn Độ, Phật Di Lặc là nhân vật phổ biến nhất cùng với Đức Phật Thích Ca. Ở Trung Quốc, từ thế kỷ thứ 4 đến thứ 6, các nghệ nhân Phật giáo sử dụng tên Phật Thích Ca và Phật Di Lặc thay cho nhau.

Điều đó cho thấy sự phân biệt giữa hai người vẫn chưa được rõ ràng và các biểu tượng tương ứng của họ vẫn chưa được định hình vững chắc. Một ví dụ cụ thể là tác phẩm điêu khắc Phật Thích Ca bằng đá được tìm thấy trong bảo tàng dành cho Phật Di Lặc năm 529 SCN (hiện tại là Bảo tàng Thanh Châu, Sơn Đông).

Biểu tượng

Trong Phật giáo thời kỳ đầu, Phật Di Lặc thường ngồi trên ghế, thả lỏng hai chân trên mặt đất hoặc vắt một chân lên ghế chờ đợi đến thời khắc quan trọng. Ngài mặc quần áo của một Tỳ Khưu hay một người trong hoàng gia Ấn Độ. Là một vị Bồ tát, Ngài thường đeo nhiều trang sức.

Thường thì Ngài mang theo một cái tháp nhỏ trong cái mũ của mình, tượng trưng cho ngôi chùa chứa các pho tượng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni để giúp Ngài xác định nó khi kế vị, và Ngài cũng giữ một bánh xe pháp (dharmachakra) được đặt trên hoa sen.

Trong nghệ thuật Phật giáo Gandhara, Hy Lạp, Phật Di Lặc được biểu hiện như một nhà quý tộc Trung Á hay Bắc Ấn. Tại Trung Quốc, Bồ tát Di Lặc được biểu hiện dưới dạng mập tròn vui vẻ, trẻ con quấn quýt xung quanh. Người ta tin rằng, đó chính là hình ảnh của Bố Đại Hòa thượng, được cho là hóa thân của Di Lặc ở thế kỉ thứ 10.

Một số vật phẩm phong thủy Phật Di Lặc mang lại tài lộc và may mắn

– Phật Di Lặc nằm vui đùa với trẻ em: Hình tượng này tượng trưng cho sự sung túc, niềm vui, may mắn và năng lượng tích cực.

– Phật Di Lặc cầm cái bát trên tay: Hình tượng này tượng trưng cho sự “buông bỏ”, tự do và thong dong tự tại vậy mà vui trước mọi biến đổi của vô thường.

– Phật Di Lặc cầm cái quạt trên tay: Hình tượng này tượng trưng cho sức khỏe, bình an và hạnh phúc. Người ta nói rằng khi Ngài phất quạt sẽ đẩy lùi mọi điều xui xẻo trong cuộc sống.

– Phật Di Lặc cầm theo cái bao hoặc túi: Đối với nhiều người, hình tượng Phật Di Lặc xách theo cái túi tượng trưng cho may mắn, tài lộc hay sự giàu có mà Ngài sẽ ban phát cho chúng sinh. Tuy nhiên, một số người lại giải thích cái túi của Phật Di Lặc được dùng để thu gom những phiền não và đau khổ của chúng sinh.

– Phật Di Lặc cầm viên ngọc: Hình tượng này tượng trưng cho trí tuệ, sự giàu có và thịnh vượng được xây dựng từ trí tuệ sẽ mãi vững bền. Một số người khác thì cho rằng viên ngọc mà Phật Di Lặc cầm là ngọc Mani, cầu gì được nấy.

Cung trời Tusita

Theo kinh điển, Phật Di Lặc hiện đang sinh sống tại cung trời Tuṣita, và đó cũng là nơi mà đức Phật Thích Ca đã sống trước khi Ngài tái sinh xuống trái đất để giảng dạy pháp. Một số người tin rằng, các vị giác ngộ trở thành Bồ tát sẽ sống ở cõi trời Tuṣita trước khi họ xuống vương quốc của con người để trở thành chư Phật.

Mặc dù tất cả Bồ tát đều được định để trở thành chư Phật, nhưng khái niệm về Bồ tát có sự khác biệt giữa Phật giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa. Trong Phật giáo Nguyên Thủy, một vị Bồ tát đơn giản chỉ là một người giác ngộ, trong khi đó, Phật giáo Đại Thừa coi Bồ tát là những người đã đạt giác ngộ cao cấp nhưng nguyện không nhập Niết bàn để có thể giúp đỡ chúng sinh thoát khỏi đau khổ.

Khi Bồ tát Di Lặc trở thành một vị Phật, Ngài sẽ cai quản cõi Tịnh Độ Ketumati, cõi trời đôi khi được kết hợp với thành phố Varanasi của Ấn Độ (còn gọi là Benares) ở Uttar Pradesh. Trong vũ trụ học Phật giáo, tất cả các vị Phật đều cai quản một vùng đất thuần khiết, như Đức Phật A Di Đà chủ trì cõi Tây Phương Cực Lạc (Sukhavati).

Sự xuất hiện của Phật Di Lặc trong tương lai

Sự xuất hiện của Phật Di Lặc xảy ra sau khi những lời dạy của Đức Phật Thích Ca không còn tồn tại trên trái đất. Ngài được dự đoán là sẽ đạt được giác ngộ sau 7 ngày, nhờ đức hạnh của nhiều kiếp chuẩn bị.

Khi Phật Di Lặc xuất hiện sẽ kèm theo một số hiện tượng kỳ bí, các đại dương sẽ giảm kích thước, cho phép Ngài đi qua chúng một cách tự do. Đó là cũng dấu hiện nhận biết thời điểm Phật Di Lặc đích thực xuất hiện và đó cũng đồng nghĩa với sự kết thúc chu kỳ “Thành Trụ Hoại Không” của hành tinh này, để xây dựng một thế giới mới.

Nhiều người tự xưng là Phật Di lặc

Những người sau đây được liệt kê chỉ là một phần nhỏ trong số những người tuyên bố mình là Phật Di Lặc. Nhiều người đã hoặc đang sử dụng việc hóa thân của Bồ tát Di Lặc để thành lập một trường phái Phật giáo mới hoặc sử dụng tên của Ngài như một phương tiện để hình thành một phong trào tôn giáo mới.

Gung Ye, một lãnh chúa Hàn Quốc trong thế kỷ thứ 10, đã tuyên bố mình là hóa thân sống của Phật Di Lặc và ra lệnh cho các thần dân thờ phượng mình. Lời tuyên bố của ông đã bị đa số các nhà sư Phật giáo khước từ và sau đó, ông bị truất quyền hành và bị giết bởi các đầy tớ.

Năm 613, nhà sư Xiang Haiming tự xưng là Bồ tát Di Lặc để khởi xướng cuộc nổi dậy. Năm 690, Hoàng hậu Ngô đã thành lập triều đại Chu thứ hai, tuyên bố mình là hóa thân của Đức Phật tương lai, và đặt tên Lạc Dương là “thủ đô thánh thiện”.

Lu Zhong Yi, tổ phụ thứ 17 của I-Kuan Tao, tuyên bố là hóa thân của Phật Di Lặc. L. Ron Hubbard, người sáng lập Dianetics and Scientology, đã đề nghị ông là “Metteya” trong bài thơ Hymn vào năm 1955.

Claude Vorilhon, người lãnh đạo phong trào Rael đã tuyên bố với những người tham dự hội thảo Hội Á Châu Raëlian, rằng một người sinh ra ở Pháp, một đất nước có biểu tượng là con gà trống, nằm ở phía tây, đáp ứng các tiêu chí của Phật Di Lặc.

Hoa Sen Phật – Nguồn: chúng tôi – Ảnh kwanyinbuddha

Phương Pháp Tu Trì Của Cư Sĩ Bạch Dương Kì

Đạo là từ xưa đã có người tu rồi, mà phương pháp tu trì bây giờ và trước đây có cái gì khác biệt ? Trước khi muốn tham thảo điểm này, trước hết hãy tìm hiểu vì sao phải tu trì ? Lấy chiếc quạt điện mà nói, nếu bị sự cố ngừng rồi là do công tắc đóng mở thì phải sửa công tắc đóng mở mới có thể khôi phục lại. Đối với chúng sanh mà nói, 60000 năm nay trôi trong dòng lục đạo luân hồi, tại thế gian có lúc làm người, có lúc làm súc sanh, vì sao chúng ta chưa thể siêu sanh liễu tử, chẳng được giải thoát tự tại ? Nguyên nhân này, thói xấu đến từ đâu ? phải tìm ra để trị liệu, đấy chính là tu trì.

Trước khi thiên đạo đại khai phổ độ, Thánh nhân của tam giáo mỗi vị có dạy bảo dẫn dắt rất nhiều phương pháp tu trì, đáng tiếc đều chẳng phải là đốn pháp. Chỉ nói riêng trong pháp liễu sanh tử mà Phật Như Lai đã nói thì đã có nhiều đến tám vạn bốn nghìn pháp môn, vả lại đều là tiệm pháp. Cho nên, sanh tử chẳng cách nào liễu ngay, chỉ có thể rời khỏi dần dần. Do vậy muốn tu trì trong kiếp này hy vọng siêu sanh liễu tử là chuyện tuyệt đối chẳng thể nào. Vậy thì Sư Tôn Sư Mẫu truyền thiên đạo này cho chúng ta tu trì, rốt cuộc có tương đối thù thắng và dễ tu chăng ? Nói toạc ra thì thiên đạo là tu cứu cánh nhất, phương tiện nhất. Tu đạo nếu chẳng cứu cánh cũng giống như sanh bệnh mà chẳng có kê đúng thuốc trị đúng bệnh, kết quả chỉ có thể trấn áp mà chưa thể đoạn căn ( chặt đứt tận gốc ). Trị ngọn mà chưa trị được gốc như thế chính là tu phước báo của kiếp sau. Đợi đến khi hồng phước hưởng hết rồi lại phải đi luân hồi. Chỗ thù thắng nhất của Thiên Đạo chính là truyền tam bảo tâm pháp bao hàm đạo thật, lý thật, thiên mệnh thật.

Cái mà Sư Tôn Sư Mẫu lần này truyền cho gọi là ” mạt hậu nhất trước “, bởi vì chúng sanh sáu vạn năm nay sanh sanh tử tử luân hồi trong biển khổ đã đến bước rất thảm hại rồi. Vì sao lại sớm chẳng truyền, muộn chẳng truyền ? chính là đang chờ đợi thời cơ nhân duyên. Nếu đến sớm, nước rất cạn nên bạn chẳng sợ, đến muộn, nước đã ngập đến mũi rồi thì đã không kịp nữa. Cho nên vào lúc thiên vận Ngọ mùi thay thế nhau, đại khai phổ độ chính là đến đúng lúc. Vì sao bây giờ chẳng bảo bạn ngồi thiền, đến núi sâu tìm bạn luận đạo, đấy là do thời khắc nhân duyên. Sáu vạn năm nay oan bại nghiệt trái làm một lần đại thanh toán, oan trái đã tích đầy rồi, đang ở rìa mép bùng phát, cho nên vừa đúng lúc thời cơ đến, tam kì mạt kiếp, lúc tai kiếp sắp ập đến, tiên phật từ bi gánh đỡ lấy.

Từ xưa đến nay, cái mà tiên phật truyền thụ, tự tánh phật mà mọi người đều có, phát lộ ra ngoài, tức là chỉ ra bổn tánh của bạn, bạn chính là thánh nhân, là chư phật bồ tát, cảnh giới quang minh sáng ngời chính là ở đây, thập phương thế giới cũng ở phương thốn bảo điền này, thế giới hoa nghiêm ở đây, tịnh thổ nhân gian cũng ở đây, đây là nơi thuần tịnh nhất, quang minh nhất, tức là từ xưa đến nay, Phật Phật mật truyền bổn thể, sư sư mật phó bổn tâm. Có bổn thể ( linh ) chúng ta mới có thể đi đây đi đó, có thể mới có thể dụng ( mặc áo, ăn cơm ), sáu vạn năm nay chẳng biết bổn thể, cho nên dụng sai hết thảy, từ ba đời ( Nghiêu, Thuấn, Vũ ) đến nay thì đã phân chẳng rõ nhân tâm, đạo tâm rồi.

Nhân chi sơ, tánh bổn thiện ? bổn ác ? tức là thiện ác đã rơi vào đối đãi rồi. Chúng ta đắc thọ chơn truyền, truyền trực tâm của chúng ta, điểm này linh nhất, bạn và tôi đều như vậy. Cái tâm tiên thiên từ cung nê hoàn của đỉnh đầu kéo xuống, thông qua mắt có thể thấy, mũi có thể hít thở ( Thượng đế dựa vào hình dạng của ngài nặn nên hình con người bùn đất, rồi hà sinh khí vào mũi thì thành người sống có linh hồn, ) miệng có thể ăn, truyền mãi đến hệ thống tiêu hóa, đường trực tuyến này gọi là hoàng trung thông lý, lấy nguyên thần làm bảo vệ, làm trực tâm để dựa dẫm, đấy là một con đường tiên thiên mà Lão mẫu đã sanh, chẳng dạy mà hành, chẳng học mà biết.

Đạo chẳng thuộc tu, nói tu bèn rơi vào giai cấp. Sám hối, hành công liễu nguyện, độ người là quyền pháp, còn thật pháp thì có chỗ khác, bình đẳng, Lão Mẫu đã sanh ra cho chúng ta, chẳng phải do học mà có, nay con được một chỉ, phiêu phiêu nơi thiên đường, chẳng có sinh và tử, chung nhật luyện thần quang. Một chỉ của Minh Sư tuyệt đối siêu sanh liễu tử, chẳng ở chỗ tu. Nay sở dĩ phải tu là bởi vì tâm can của chúng ta đã mê muội rồi, đánh mất trực tâm mới phải tu, thật ra chỉ cần có lòng tin gìn giữ cái gốc, tùy việc màứng cảnh, làm việc mà chẳng nhận rằng mình có công lao, qua rồi thì quên đi những việc tốt mà mình đã làm, đấy là thật pháp. Sẽ chẳng vì khuyên người ăn chay hoặc đã độ vài chục người cầu đạo mà vui ba năm chưa thể quên. Đương nhiên đấy là những điều đáng vui, nhưng đối với việc siêu danh liễu tử mà nói thì vẫn chưa đạt tiêu chuẩn qua.

Sau khi đắc đạo chẳng phải là giống như phụ nữ giặt quần áo, phải dốc hết dức để tẩy rửa trắng tinh. Đạo là : nhất niệm hồi quang chiếu đại thiên ( Tạm dịch : một niệm hồi quang phản chiếu soi khắp đại thiên thế giới ) . Quay đầu lại xem, những vướng mắc níu kéo của chúng ta nhiều biết bao nhiêu, toàn bộ đều buông xả xuống hết thì được rồi, Tây thiên tuy xa nhưng trong phút chốc thì đến.

Đạo thuộc tiên thiên, nhưng mà đắc trước rồi tu sau, cái đắc trước là trực tâm, cái tu là cái tâm hậu thiên, khiến cho tâm và tánh dựa vào nhau. Con đường xưa của sáu vạn năm nay đã đi quen rồi; giờ mở ra một con đường mới, giả sử nếu chẳng có người dẫn dắt một lần, hai lần cho bạn, thì bạn sẽ chẳng đi tốt được. Niệm đầu nếu thường đi lệch rồi thì sẽ nuôi dưỡng thành thói quen như cơm bữa vậy. Đây là con đường phải tu, chân lí mọi người đã đắc được rồi, sáu vạn năm nay tự ngỡ rằng là đúng nhất định cần phải sửa lại cho đúng, lấy chân lí đạo đức làm trung tâm. Nếu phân hai chúng ta cãi nhau, sẽ trách tội nhau, nếu chẳng được đối phương nhận lỗi sai với mình trước thì mình sẽ bỏ mặc không quan tâm đến họ, đấy tức là tập khí bạo lưu mà thiền gia nói. Phàm việc gì cũng đều là tương đối, phải từ trong đó tìm ra một cái đạo trung dung; người tu đạo mà là người tiêu cực cảm thấy việc gì cũng chẳng thuận, cho rằng chẳng cần tu đạo nữa, càng tu càng phiền; người tích cực sẽ nghĩ rằng lúc không tu đạo thì sóng yên gió lặng, bình đạm nhạt nhẽo vô vị, tu rồi trái lại muôn vẻ sắc màu, có khi thầy khảo, có khi con cái khảo. Tâm cảnh của con người phải chuyển mới được, giống như một người tính tình nóng nảy, cái tánh quen đụng chạm kích động một cái thì nổi nóng liền, tiếp cận phật đường nhiều thì sẽ từ từ kiểm thảo cải tiến. Anh ta có lẽ sẽ nói rằng : tâm của tôi chẳng hư xấu, vốn dĩ là như thế, nổi nóng xong rồi thì chẳng có việc gì; bản thân anh ta chẳng có việc gì, nhưng người khác có thể đã bị tổn thương rồi.

Đạo ( linh tánh ) vốn dĩ là tốt, chẳng thuộc tu, cái phải tu chính là cái tâm này. Lục Tổ đàn kinh ghi chép : vì sao Đại sư huynh ( Thần Tú ) chẳng đắc được y bát, mà một Huệ Năng giã gạo thì lại đắc được y bát vậy ? bởi vì một vị là nhìn trên phương diện ” giáo ” : thời thời cần phất thức, vật sứ nhạ trần ai ( luôn luôn phải lau chùi, chớ để dính bụi trần ). Một vị đã ngộ cái ” bổn lai vô nhất vật, hà sứ nhạ trần ai ” ( xưa nay không một vật, nơi nào dính bụi trần ? ) . Cái tâm ngay thẳng ( bổn thể ) vốn có, chẳng phải do người dạy, chẳng phải là tạo tác. Cũng như là nhìn thấy một đứa bé sắp bị xe đụng phải, bất kể người nào phát hiện thì cũng sẽ nhất định lập tức kéo đứa bé khỏi, cứu lấy nó một mạng. Cái ” thiên lí lương tâm ” ngay thẳng này là mọi người đều có. Một niệm ngay lúc ấy chẳng cần phải người ta dạy. Con người ta biết tửu sắc tài khí, tham sân si ái, đấy là cái tâm hậu thiên, phải điều chỉnh, phải tu sửa, vấn đề phải đối mặt, dụng chút công phu. Cái mà sư tôn sư mẫu truyền cho chúng ta là tâm ngay thẳng, vậy mà cái chúng ta tu lại là cái tính nóng nảy, lại thêm một chút tâm hậu thiên, ” có tôi ” sẽ có cái sĩ diện của tôi, xã hội của tôi, danh lợi của tôi, địa vị của tôi, còn trực tâm thì đánh mất rồi. Tu đạo chỉ là phải hóa bỏ đi những lòng tham, dục vọng, chấp trước này thôi.

Lúc chúng ta cầu đạo đã có lập mười điều nguyện lớn, điều thứ nhất là sau khi đắc đạo thì thành tâm bảo thủ, thật tâm sám hối ( tu luyện ). Cái gì gọi là thành tâm bảo thủ, phải bảo thủ cái gì ? Sau khi đắc đạo chẳng nhiều thêm được cái gì, cũng chẳng ít đi cái gì ( tự tánh bất tăng bất giảm ), chỉ là trước đây mê muội mất, nay ít nhiều có chút khai ngộ; trước đây đen tối hắc ám, nay ít nhiều có chút quang minh; chúng ta phải gìn giữ cái điểm linh quang này, sau khi khai quang điểm nhãn phải khiến cho tâm đăng ( ngọn đèn trong tâm ) bảo trì sự quang minh,bất luận trong gia đình hoặc xã hội, chúng ta đã tiến đạo rồi thì phải chịu đựng nổi sự hiểu lầm, hủy báng, nếu không sẽ dẫn động ra những tập tánh mà sáu vạn năm nay chưa hóa bỏ được. Do vậy, trị liệu cái này thì phải thật tâm sám hối. Các tôn giáo đều rất xem trọng sám hối, bởi vì chỉ cần là người thì phải ở chung với người, ở chung thì sẽ có những sự tình có mức độ thích hợp nhất định, phải cân nhắc nặng nhẹ mà phạm phải lỗi lầm. Chẳng sợ đã phạm lỗi, chỉ sợ chẳng sửa lỗi, chẳng phải chỉ là nhận lỗi bằng miệng mà phải phát hiện từ đáy lòng, cảm tưởng những cái không tốt của bản thân mình, đấy là trọng điểm của sám hối, sám hối càng sạch rồi thì tiến đạo sẽ càng nhanh.

Có thể nhớ lại cái lúc ấy cầu đạo muốn chúng ta bình tâm tịnh khí nhìn phật đèn, quỳ nghe lễ chúc. Tâm cảnh của chúng ta như có sóng nước, khởi lên làn sóng nhỏ rồi thì phải cẩn thận, không thể đợi đến vọt trào lên sóng bạc đầu thì đã quá chậm rồi. Trong nhị lục thời trung ( cả ngày ) lúc chúng ta thành toàn hậu học hoặc tiếp nhận chỉ thị của Tiền Hiền, ít nhiều sẽ vì một câu nói chẳng thuận tai mà trong lòng rất không thoải mái, do vậy chúng ta quan tâm chăm sóc tâm niệm phải giống như mèo bắt chuột vậy, niệm đầu khởi lên một cái thì nhanh chóng nắm bắt lấy, tâm niệm tác quái, phải nhanh chóng hồi quang phản chiếu, chớ có để cho tập khí bạo lưu dễ dàng tuôn ra. Tiền bối nói một câu nặng lời, trong lòng bèn chẳng cân bằng, vì sao chẳng chịu nổi sự mài luyện vậy ? chỉ muốn nếm ngọt mãi, trẻ sơ sinh muốn lớn lên thì phải dứt sữa, chúng ta muốn thành tựu đạo nghiệp thì phải qua được khảo nghiệm.

” Vô sanh sám hối ” cứu cánh nhất thì giống như ánh sáng mặt trời rất nhanh làm tan chảy các tảng băng vậy, thể ngộ tự tánh là không, quá khứ thì để nó qua đi, những hành vi sau này mới là quan trọng nhất. Chỉ hối hận là chẳng có ích.

Thân thể của chúng ta giống như phật đường, có lúc tâm, khẩu, ý chẳng thanh tịnh, cũng giống như quét dọn phật đường vậy, đèn mẫu ( tâm linh ) bám phủ lên bụi trần cần phải lau chùi sạch, đèn nhật nguyệt ( đôi mắt ) triêm nhiễm vết dầu dơ cũng phải lau chùi sạch. Lúc quét dọn sạch phật đường, hồi quang phản chiếu, cảm nhận được pháp mà Sư tôn sư mẫu đã truyền cho chúng ta, người sâu xa thì nhìn thấy được cái nghĩa sâu của nó, người cạn thì nhìn thấy nghĩa cạn của nó. Từ việc lau chùi sạch phật đèn thể hội được phi lễ vật thị, thính, ngôn, động ( không hợp với lễ thì không nhìn xem, nghe, nói, hành động ), từ việc quét dọn phật đường mà lãnh ngộ được rằng cũng phải quét dọn sạch sẽ tâm địa của mình, mượn nhờ vào việc mài phẳng lò bát quái mà trong lòng lãnh hội được rằng tâm địa phải từ bi, vĩnh viễn tâm bình khí hòa, bốc lên khói cát tường.

Trong vòng những năm thiên đạo phổ truyền, trọng điểm tu trì là ở chỗ nguyện chẳng thể liễu thì khó mà về cố hương. Hãy thật tốt mà hành công liễu nguyện, độ người cầu đạo là công đức lớn nhất, cứu một mạng người hơn cả xây 7 tầng tháp, huống hồ là cứu linh tánh của người có thể thoát luân hồi, siêu sanh liễu tử. Dùng việc bố thí thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới cũng chẳng cách nào sánh được với giá trị của nó ( trong kim cang kinh có nói ).

Nay phổ độ tam tào, ứng thời ứng vận, các đệ tử thiên đạo phải cùng gánh vác trách nhiệm trọng đại hoằng dương đại đạo, nhân lúc còn một hơi thở mà ra sức vì đạo, khai hoang độ thế, chú ý hành vi tu tâm tánh của mình, do vậy mà chẳng có quải ngại lo lắng, ở trong thuận cảnh hành nơi thuận cảnh, ở trong nghịch cảnh hành nơi nghịch cảnh ( chẳng vì thuận cảnh mà đi lên con đường ” hoa “, vì nghịch cảnh mà đi trên con đường ” tuyệt vọng ” ), vẫn gìn giữ sự mộc mạc chất phác, thường thanh thường tịnh, lấy việc ra sức độ người liễu nguyện, khai hoang bố đạo thì đã tự tự nhiên nhiên đi lên thiền định rồi, vả lại có thể chẳng khắc ý nhẫn nhục mà tự nhiên nhẫn nhục, người bình thường bị thiệt thòi thì không đòi lại sự công bằng thì không cam tâm, nhưng mà trong đạo thì lấy đạo làm tôn, lấy đức làm quý, bị người hủy báng, hiểu lầm thì chúng ta cho rằng có lẽ bình thường ( hoặc kiếp trước ) đã trục lợi từ người khác, làm cho họ thiệt thòi rất nhiều, nay người ta chỉ là đòi lại chút thôi, triêm được ơn trên từ bi, sớm ngày hóa giải, lấy lớn hóa nhỏ, trả lại cho người ta sớm một chút cũng tốt. ( Những oan khiếm của sáu vạn năm nay, một kiếp phải tu thành thì không thể không trả hết trong kiếp này được ).

Ra sức trong đạo trường, chẳng khắc ý mở ra diệu trí tuệ ( bát nhã ) mà tự nhiên mở ra diệu trí tuệ, thật sự phát ra lòng thành tâm muốn độ người nào đó, đi giảng đạo lý hơn nửa ngày trời mà vẫn chưa tự giác được mình nói thế nào mà có thể nói được nhiều như vậy, lại cái nào nói cũng có lý. Lần phổ độ này, Tam Tào toàn chấn động, có một số vị thần cõi khí thiên công quả chẳng đủ, toàn mượn nhờ nhục thể của người phàm để hành công, cho nên muốn độ người, trưng cầu hộ pháp của ơn trên, nhân cơ hội mà trợ đạo gia linh, dụng tâm thể ngộ, nói một lần cho người khác nghe, những đạo lý này bèn đi vào xương vào bụng, vĩnh viễn thuộc về bạn rồi.

Sự tinh tiến, bố thí, trì giới, thiền định, nhẫn nhục, trí tuệ ở trên là pháp lục độ vạn hạnh của thời cổ xưa tu bồ tát đạo, trước đây phải tu vô lượng kiếp mới có thể thành tựu, nay trong một kiếp này, chúng ta dốc hết sức độ người hành công, hoằng đạo cứu đời, trong sự bất tri bất giác mà tự nhiên thành tựu lục độ vạn hạnh, chẳng có khắc ý giới định tuệ thì lại thành tựu giới định tuệ, chẳng có khắc ý đi khắc chế những dục vọng riêng tư của bản thân khiến cho cử chỉ, lời nói hành động hợp với lễ tiết mà đến lúc sau cùng tự nhiên tràn đầy đạo khí, thiện khí xông thiên, bất tri bất giác mà thành tựu đạo nghiệp rồi. Đây chính là sự vĩ đại và thù thắng của thiên đạo, trong ý định vốn có ban đầu của Sư Tôn Sư Mẫu, muốn chúng ta hành công liễu nguyện, tuyệt đối có thể trở về cố hương.

Khẩu quyết : làm người làm việc phải có tâm từ bi của tổ sư chưởng thiên bàn, làm việc từ bi, nói lời từ bi, thành tựu đại gia đình thiên đạo.

Nhân Duyên Phật Di Lặc Ứng Vận Và Di Lặc Tịnh Thổ

1. Tín ngưỡng và tu hành tuy là sự quyết định của nhân duyên hội tụ của cá nhân mỗi người kiếp này, nhưng đi vào loại pháp môn tu trì nào thì lũy kiếp chắc chắn là đã có kết phật duyên sâu dày với những vị thánh hiền tiên phật tương quan.

2. Tiên Thiên Đại Đạo là tín ngưỡng của chân lí đại đạo phụng thiên thừa vận.

3. Tâm nguyện ban đầu của việc Thượng Đế giáng dân : trước hết phái 7 vị phật trị thế, lại phái 3 vị phật ( Nhiên Đăng, Thích Ca, Di Lặc ) chia làm 3 kì chấp chưởng thiên bàn thâu viên, kiêm dùng đạo và kiếp cùng giáng.

Chánh pháp 1000 năm : từ trước tây nguyên năm 487 đến Tây Nguyên năm 513 là lúc chánh pháp vẫn thịnh.

Tượng pháp 1000 năm : từ tây nguyên năm 513 đến tây nguyên năm 1512

:1000 năm : từ tây nguyên năm 1513 đến tây nguyên năm 2013 là 500 năm đầu của mạt pháp.

( 2 ) Dựa vào thâu viên chứng phật mà nói :

Đại bảo tích Kinh quyển 88 : Thế Tôn nói như thế này với Di Lặc Bồ tát Ma Ha Tát rằng : ” Di Lặc, ta phó chúc cho ông, mạt thế sau này, hậu 500 năm, lúc chánh pháp diệt, ông nên giữ gìn bảo vệ Phật Pháp Tăng bảo, chớ để đoạn tuyệt ! ”

Phật thuyết kinh Di Lặc hạ sanh thành phật :Thuở ấy, có cây Bồ-dề tên gọi là Long Hoa, cao bốn du-thiên-na, sầm uất và tươi tốt, cành lá phủ bốn bề, che mát sáu cu-lô.Từ Thị Đại Bi tôn, ngồi dưới cây thành Phật…

Quá khứ phàm là những người đã từng nghe chánh pháp trong phật pháp của đức Thích Ca, vào thời kì Bạch Dương đều sẽ gặp được kì thâu viên của Phật Di Lặc.

Vào thời kì mạt pháp, muốn có thể làm tới giác hành viên mãn là một việc chẳng dễ dàng gì.

Chúng sanh mạt pháp chư căn nhãn nhĩ, dục vọng phồn thịnh. Muốn họ đoạn dục tịnh nghiệp, tu đến nhất tâm bất loạn, lại phát tâm vô thượng bồ đề thật chẳng dễ dàng.

Căn khí của chúng sanh thấp kém, muốn vãng sanh Tây Phương tịnh độ hoặc gặp phật xuất thế đều vô cùng khó khăn, ngay cả nếu gặp được rồi thì phát tâm cũng khó.

Do vậy Phật Di Lặc dựa vào căn khí của chúng sanh mạt pháp, dùng pháp môn phương tiện thiện xảo, ở Dục giới thiết lập Đâu Suất tịnh độ để cho những chúng sanh mạt pháp dễ vãng sanh cõi này.

( 4 ) Dựa vào nguyện của phật mà nói :

Phật thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát thượng sanh Đâu Suất Thiên kinh : chỉ cần nghe danh hiệu Phật Di Lặc mà sanh tâm cung kính, lễ bái, niệm phật hiệu của ngài, thành tâm sám hối những lỗi lầm của mình, lúc mệnh chung tức có thể thấy Phật Di Lặc.

Phật bảo ngài Ưu-ba-ly:

“Ông hãy lắng nghe! Vào đời vị lai, Di-lặc Bồ-Tát sẽ làm nơi quy y rộng lớn cho chúng sanh. Nếu có ai quy y Di-lặc Bồ-Tát, thời phải biết người này sẽ được bất thối chuyển nơi Vô Thượng Đạo. “

Chẳng tu thiền định, chẳng đoạn chư lậu : Đạo thống một mạch tương truyền đã có 64 vị phật thánh làm kiến chứng cho chúng ta.

( 5 ) Thế giới lý tưởng của Di Lặc tịnh thổ a. Thế giới do từ tâm của Phật Di Lặc tiếp dẫn Đại nguyện tiếp dẫn của hồi chân hướng tục : Vãng sanh Đâu Suất Tịnh độ chỉ cần quy y tam bảo, thanh tịnh trì giới, như pháp bố thí, phát nguyện vãng sanh thì được rồi.

Thế giới gần :Thế giới Di Lặc giống như thế giới này của chúng ta, cùng ở dục giới, cách chúng ta rất gần, đến được tương đối nhanh.

: Thế giới cực lạc phải niệm đến nhất tâm bất loạn mới có thể đến được.

Thế giới phổ : Di Lặc tịnh thổ chỉ cần trì giới hành thiện, thọ một chỉ của Minh Sư, tức có thể vãng sanh.

b. Thế giới thấy phật, nghe pháp

Những chúng sanh của thế giới Sa bà nếu vãng sanh Di Lặc tịnh thổ, ở trong Đâu Suất Nội Viện có thể thường nghe hỏi phật pháp, chẳng cần lo lắng đọa lạc nữa.

Trong quá trình thấy phật nghe pháp ấy, chuyển hóa căn tánh nhân thiên thành căn tánh xuất thế; hóa căn tánh nhị thừa thành căn tánh đại thừa.

Có thể đồng kiến đồng hành với chúng sanh, tuy người ở trong thế giới ngũ trược, nhưng không bị tham dục sắc tướng làm cho mê hoặc.

c. Thế giới của hồi trí hướng bi

Từ tâm của Di Lặc Bồ Tát thà chẳng ở thế giới Thường Tịch Quang Thổ, chẳng ở thế giới tịnh trí trang nghiêm, trái lại kiến lập tịnh thổ ở trong dục giới, quảng độ những chúng sanh hữu tình, đấy là Di Lặc Bồ Tát dùng trí tuệ vô biên, tâm bi mẫn hồi hướng cho những chúng sanh mạt pháp, để họ có một cơ hội dễ dàng đắc độ.

d. Thế giới của mang nghiệp vãng sanh

” Thiên Bảng ghi danh, địa phủ rút tên ” trong pháp môn bạch dương cũng tức là lúc tuổi thọ ở đời chấm dứt thì chẳng rơi vào lục đạo, có thể mang nghiệp vãng sanh Thiên Phật Viện, được các vị Bồ Tát tiếp tục giáo hóa.

Đợi đến khi thời cơ chín muồi, tức theo Phật Di Lặc cùng hạ sanh nhân gian, hành công liễu nguyện, đoạn phiền não, liễu tội nghiệp, thấy phật, nghe pháp, chứng quả ở Long Hoa Hội.

e. Làm thế nào để đồng chú thiên bàn với Phật Di Lặc

( ( 1 ) Dùng ” chánh tri kiến ” làm đạo sư người thầy dẫn dắt )

Chẳng rời tự tánh :rõ lý chính là trí tuệ

Chẳng chấp trước hình tướng :Không được chấp trước vào việc truyền thuật lại những việc mượn khiếu, thiên cơ, sa bàn, hiển hóa, chẳng tu hành dựa vào tình cảm.

, Là lý thì tiến phi lý thì lui :hưu thính tà nhân hồ thuyết thoại, lao thuyên ý mã niệm vô sinh( chớ có nghe những người có tà kiến tùy tiện nói năng bậy bạ )

Không phỏng đoán, không hướng ra ngoài tìm kiếm 🙁 2 ) Dựa vào sự thật thà tu hành để lát đường

một ngày tu thì được một ngày công, một ngày không tu thì một ngày không.

Lúc nào cũng làm, chỗ nào cũng làm : cùng phò trợ Di Lặc thành đại đạo

Sám hối nhiều, cảm ân nhiều : có lỗi thì sửa, thật lòng sám hối trước Tổ Sư

Tận luân thường, ngay địa vị mình đang ở mà nỗ lực làm tốt những việc mình nên làm : Tu hành không thể rời khỏi cuộc sống hiện thực, bởi vì ” là chơn phật chỉ luận gia thường “

Tùy duyên hỷ, học Di Lặc : Học tập từ tâm giai đại hoan hỷ của Di Lặc Tổ Sư, cứu thế độ người, hành thiện bố thí, vô tâm vô vi.

Kết luận

Chúng ta hôm nay có thể có được sự may mắn theo Di Lặc Tổ Sư cùng bàn việc mạt hậu thâu viên đại sự thì nên nắm bắt lấy cơ duyên tu bàn của mạt hậu nhất trước này.

Tâm tịnh tức phật thổ tịnh : Chúng ta phải phát dương tinh thần của Di Lặc, học tập tâm lượng lớn của Di Lặc Tổ Sư, miệng cười thường mở.

Bồ đề tự tánh, vốn dĩ thanh tịnh, chỉ cần dùng tâm này, trực liễu thành phật.

Cập nhật thông tin chi tiết về Pháp Môn Tu Đạo Thời Bạch Dương (Phật Di Lặc) So Với Pháp Môn Tu Đạo Thời Hồng Dương (Phật Thích Ca Mâu Ni) Có Gì Khác Biệt? trên website Getset.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!