Xu Hướng 3/2024 # Phác Thảo Mười Hai Cung # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phác Thảo Mười Hai Cung được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Getset.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bạch Dương

30 độ đầu tiên và 30 ngày đầu tiên tiếp nối điểm xuân phân (hay còn gọi là điểm Bạch Dương) tượng trưng cho giai đoạn của Bạch Dương trong chu kỳ hằng năm của Trái đất. Trong suốt giai đoạn này, ở bán cầu bắc sẽ có ban ngày dài hơn ban đêm. Giai đoạn của Bạch Dương tượng trưng cho bắt đầu, khởi sinh, và năng lượng cần thiết để một sinh vật nảy mầm hoặc trỗi dậy.

Giai đoạn này được đặc trưng bởi những gì khởi đầu trong sự sống của thực vật hoặc động vật. Những hạt giống được gieo trồng từ mùa vụ trước bắt đầu nảy mầm. Những chồi mới xuất hiện trong bụi cây và trên các nhánh cây sau một thời gian dài bất động. Nhiều loài động vật cho ra đời lứa con mới vào mùa xuân. Một vài loài động vật xuất hiện, sinh sôi và nảy nở nhanh chóng trong mùa này. Một vài thú con khác được sinh ra trong mùa đông và đến nay bắt đầu lộ diện.

Con cừu đực, biểu tượng của Bạch Dương, tương ứng với năng lượng cần thiết cho quá trình ra đời và cho sự nổi lên của một cái tôi mới mẻ. Ký hiệu của Bạch Dương miêu tả hình ảnh con cừu đực này mà, đặc biệt là phần đầu, mặt và sừng của nó.

Theo truyền thống, Bạch Dương là cung hoàng đạo được cai quản bởi sao Hỏa, là thế vượng (exalted) của Mặt trời, năng lượng của sao Hỏa và Mặt trời rất tương thích với Bạch Dương; là thế tù túng (detriment) của sao Kim và thế suy yếu (fall) của sao Thổ.

Bạch Dương là cung lửa tiên phong. Các cung tiên phong phường được cho là những cung chủ động hoặc thiên về hành động, bởi chúng đánh dấu sự thay đổi và khởi đầu của một mùa mới. Các cung lửa tượng trưng cho nguồn cảm hứng và năng lượng dựa trên cơ sở tinh thần. Bạch Dương tượng trưng cho hành động, thay đổi, và những bước chuyển trong lĩnh vực tinh thần hoặc lĩnh vực tâm linh-tâm trí. Nó mang đến nguồn cảm hứng, sự phấn khởi, tinh thần lạc quan, những ý nghĩ lớn, và những mục tiêu mới.

Từ khóa thường được sử dụng cho Bạch Dương là Tôi là.

Bạch Dương tương ứng với đầu, đặc biệt là mặt và mũi.

Bạch Dương tượng trưng cho bản dạng cá nhân, ý thức và nhận thức về bản thân. Nó được bộc lộ thông qua tính khẳng khái, hiếu chiến, tự chủ, tự do, bốc đồng, độc lập, tiên phong, ngây thơ, xem bản thân là trung tâm, và tính tự phát [tức là, mình thích thì làm thôi]. Bạch Dương táo bạo, can đảm, liều lĩnh, vị kỷ, đầy năng lượng, lạc quan, phấn khởi, bốc đồng, không lệ thuộc, ngây thơ, vội vã, và khó đoán trước.

Những hành tinh ở Bạch Dương do đó cũng giành quyền chủ động, khẳng khái, hiếu chiến, vị kỉ, hấp tấp, ngây thơ, nhanh nhạy và có bản tính ích kỉ. Những hành động của chúng thường ngắn ngủi và không nhạy cảm với cảm xúc của người khác.

Khi một nhà có đỉnh ở Bạch Dương, những vấn đề của nhà ấy sẽ được tiếp cận theo những cách có tính chất trên. Những vấn đề này có thể trở thành những điểm bắt đầu cho hầu hết các hoạt động, dự án và hành động của một người. Mọi vấn đề của một nhà đều có thể được cường điệu hóa nếu nhà ấy có đỉnh Bạch Dương.

Kim Ngưu

Giai đoạn Kim Ngưu tượng trưng cho tất cả những chất liệu cần thiết để duy trì cho sự sống mới được bắt đầu ở Bạch Dương, đặc biệt là nguồn chất cần thiết cho sự phát triển thể chất. Đối với đời sống thực vật, giai đoạn Kim Ngưu thường tượng trưng cho đất và những chất dinh dưỡng của đất. Ngoài ra nó cũng tượng trưng cho nước, mưa, ánh nắng mặt trời, hơi ấm, và không khí trong lành. Đối với đời sống động vật, giai đoạn này tượng trưng cho thức ăn cần thiết để tiếp tục cuộc sống cũng như nước, ánh sáng, không gian, sự an toàn và bảo đảm.

Giai đoạn Kim Ngưu cũng đại diện cho vật chất, đặc biệt là những vật chất cần thiết để biểu hiện cái tôi hoặc tính cách mới. Nó đại diện cho sự quả quyết thận trọng, vững chắc của sự sống này đối với việc xây dựng và củng cố, duy trì và phát triển một bản dạng cụ thể.

Mỗi cung đều cho ra những phản ứng đi ngược với cung trước nó, cố gắng bù đắp cho những cực đoan mà cung trước mang lại. Trong khi Bạch Dương độc lập, năng động và nhanh nhẹn, Kim Ngưu lại trở nên chậm rãi, chắc chắn và quan tâm nhiều đến tài sản vật chất. Bạch Dương nhanh chóng thử nghiệm và loại bỏ những vai trò và các cuộc phiêu lưu mới. Kim Ngưu tích cóp và duy trì những giá trị của mình. 

Con bò đực, biểu tượng của Kim Ngưu, đại diện cho những năng lượng và thúc đẩy cần thiết để định lấy những của cải, vật chất, dinh dưỡng, không gian, và sự an toàn cần thiết cho sự phát triển thể chất. Nó cũng đại diện cho khả năng bảo vệ và thưởng thức những thứ vật chất này. Ký hiệu của Kim Ngưu tượng trưng cho con bò đực, đặc biệt là phần đầu, mặt và sừng của nó.

Theo truyền thống, Kim Ngưu là cung hoàng đạo được cai quản bởi sao Kim, là thế vượng của Mặt trăng, thế tù túng của sao Hỏa và Diêm Vương, và là thế suy yếu của Thiên Vương. Kim Ngưu là cung đất kiên định. Nó tập trung, củng cố, và đảm bảo cho những gì tượng trưng cho cái đẹp tự nhiên, nguồn tài nguyên vật chất, và những tài sản có giá trị không thể chối cãi. Kim Ngưu tìm kiếm những kết quả hữu hình, cụ thể.

Từ khóa thường được sử dụng cho Kim Ngưu là Tôi có.

Kim Ngưu tương ứng với cổ, vòm họng, chất giọng, tai, thính giác, âm nhạc, và tiếng gọi giao phối. Kim Ngưu cũng tượng trưng cho những hoạt động tình dục nhằm tìm kiếm sự thỏa mãn hoặc/và nhằm mục đích sinh sản, không có sự vấy bẩn của cái tôi, sức mạnh, và những động cơ rất-con-người khác.

Kim Ngưu đại diện cho tài sản, vật giá trị và niềm vui thú. Nó đại diện cho tất cả những thứ giúp củng cố cho một sự sống hoặc bản dạng mới. Kim Ngưu mang lại ý thức mạnh mẽ về giá trị dựa trên những gì thích hợp để duy trì và giữ vững sự sống. Nó tìm cách thu hút về phía mình những gì hữu hình, đáng tin và quý giá. Kim Ngưu đại diện cho tiền bạc, vật nhỏ có giá trị, đặc biệt là những giá trị thu được từ đất như đá quý, đất màu mỡ, và nhiên liệu hóa thạch. Nó đại diện cho những nguồn tài nguyên, những thứ thuộc về trần thế, niềm vui, nhục dục, và giá trị bản thân.

Kim Ngưu tượng trưng cho những vật chất cần thiết để cái tôi hoặc bản dạng mới có thể phát triển thành một hình hài cụ thể. Kim Ngưu tượng trưng cho tất cả những vật chất và của cải giá trị. Kim Ngưu là tất cả những gì mà một cái tôi đánh giá cao và sở hữu, những tài năng và công cụ mà cái tôi này có được và có thể sử dụng tùy ý để mang lại những vật chất và của cải mà nó cho là có giá trị. Kim Ngưu biểu thị những phẩm chất và đặc điểm như tích cóp, uy quyền, thích lãnh đạo và kiểm soát, thận trọng, quả quyết, tham lam, cứng nhắc, thực tế, thực dụng, bền bỉ, thích chiếm hữu, bảo bọc, giàu có, ích kỷ, bướng bỉnh, hữu ích và có giá trị.

Các hành tinh ở cung Kim Ngưu hoạt động chậm rãi để ổn định và củng cố những chức năng mà chúng đại diện. Với một vài hành tinh, như sao Thổ, sự ổn định có thể trở thành một ưu thế cá nhân. Với những hành tinh năng động hơn, như sao Hỏa hoặc Thiên Vương, chúng có thể gặp khó khăn trong việc thể hiện chức năng của mình trong cung Kim Ngưu. Tuy nhiên, theo thời gian, tính ổn định của cung Kim Ngưu sẽ làm vững chắc thêm những hành tinh này. Mối hiểm nguy thực sự của những hành tinh trong Kim Ngưu đến từ sự bướng bỉnh, tính ích kỷ, thực dụng và những khát khao mạnh mẽ của nó.

Khi một nhà có đỉnh ở Kim Ngưu, những vấn đề của nhà ấy sẽ được tiếp cận theo những cách chậm rãi, chắc chắn, và thực tế. Những vấn đề trong nhà này này có thể trở thành những mối bận tâm ám ảnh của một người. Nhà này cũng sẽ chỉ ra những gì mà một người vốn đánh giá cao, khát vọng, tài sản, sự giàu có, thực lực và năng khiếu của họ.

Song Tử

Trong suốt giai đoạn của Song Tử vào cuối mùa xuân, mọi sự sống được sinh ra ở Bạch Dương và củng cố ở Kim Ngưu dần có một nhận thức rõ ràng hơn về những sự sống khác và những môi trường xung quanh chúng. Sau khi xây dựng được khả năng tự túc, cảm giác an toàn và một dấu ấn cái tôi nhất định trong giai đoạn của Kim Ngưu, những bản dạng này giờ đây đã có khả năng để nhận thức nhiều hơn về môi trường xung quanh của chúng một cách trung dung và lý trí mà không phải bận tâm nhiều về sự an toàn của mình. Đầu tiên, những bản dạng này kiểm tra mối quan hệ của chúng với những thứ vật chất mà chúng tích lũy để có thể tồn tại, cùng mối quan hệ giữa bản thân với những tài sản của nó.

Những mối giao kết và mối quan hệ với người khác được hình thành trong môi trường lân cận này. Hiểu được đặc tính và những phân loại của môi trường và của những thực thể khác ngụ trong môi trường đó trở thành một việc quan trọng. Những phân loại và miêu tả của các mối quan hệ, giao kết mới mẻ khơi gợi cho những suy nghĩ, câu từ, ý tưởng và đặc biệt là sự truyền tải thông tin. Song Tử đại diện cho sự liên hệ đến môi trường xung quanh và đặc biệt là môi trường của thời thơ ấu. Hình ảnh biểu tượng của Song Tử chính là hình ảnh trẻ em khám phá nơi sinh sống của chúng.

Song Tử là biểu tượng của cặp song sinh, tượng trưng cho một cặp song sinh đang cắp lấy tay nhau. Trong thần thoại La Mã, cặp song sinh này là hai người đã sáng lập ra Rome, vì vậy, được vinh danh và trở nên bất tử bằng cách hóa thành chòm sao. Cắp song sinh này cũng thường được nhắc đến trong thần thoại Navaho cũng như các thần thoại khác. Ở một số nền văn hóa, cổ mẫu cặp song sinh này được nhắc đến dưới hình ảnh của kẻ lừa gạt. Cũng như chòm sao cùng tên, ký hiệu của cung Song Tử đại diện cho cặp song sinh với cánh tay khoác vào nhau.

Theo truyền thống, Song Tử là cung hoàng đạo được cai quản bởi sao Thủy, là thế vượng của Long Thủ, và thế tù túng của sao Mộc. Song Tử là cung khí linh hoạt. Nó tượng trưng cho tính đa dạng của các mối liên kết và sự chia sẻ những suy nghĩ và ý tưởng.

Từ khóa thường được sử dụng cho Song Tử là Tôi nghĩ.

Song Tử tương ứng với lồng ngực, phổi, cánh tay, bàn tay và ngón tay.

Song Tử không chỉ tượng trưng cho cặp song sinh, mà còn cho anh chị em ruột, anh chị em họ, đồng đội và những bà con xa của gia đình, đặc biệt những ai với độ tuổi tương đồng. Song Tử cũng tượng trưng cho sự giáo dục đầu đời, học hỏi, giao tiếp, viết, nói, trò chuyện, tán gẫu và thư từ. Nó đại diện cho những chuyến đi trong khu vực lân cận hoặc trong khu sinh sống, những chuyến đi ngắn có thể hoàn tất trong ngày. Song Tử đại diện cho các mối quan hệ, giao kết, họ hàng, giáo dục, truyền thông và phong trào.

Song Tử đại diện cho sự nhận biết đến những người khác trong môi trường xung quanh. Nó cũng đại diện cho sự giao tiếp trong môi trường này, cách viết và cách dùng từ, khởi đầu của những khái niệm và phân loại, sự hiểu biết qua loa đến người khác, mối quan hệ của một người đến những vật thể khác trong môi trường xung quanh, và sự bắt đầu của việc thấu hiểu bản thân. Song Tử đại diện cho những tính cách như dễ thích nghi, hoạt ngôn, thích tán gẫu, tò mò, tính nhập nhằng nước đôi, ưa khám phá, giàu trí tưởng tượng, không quyết đoán, thông minh, có tính sáng tạo, ưa điều tra nghiên cứu, dễ bất an, vờ vịt, ưa lý lẽ, thích sắm vai, hời hợt, lắm điều, dễ thay đổi, không kiên định.

Các hành tinh ở cung Song Tử hoạt động trên cơ sở tinh thần hoặc trí tuệ. Chúng hy sinh sự sâu sắc, ổn định và chuyên chú để hoạt động một cách nhanh chóng, thưa thớt và hời hợt.

Khi một nhà có đỉnh ở Song Tử, những vấn đề của nhà ấy sẽ được tiếp cận bằng trí óc và lý lẽ. Những vấn đề này thường đa dạng, có sự gia tăng về số lượng, nhưng thiếu sự hiểu biết sâu sắc.

Cự Giải

Cung Cự Giải bắt nguồn từ ngày hạ chí, ngày đầu tiên của mùa hè. Mặt trời vào lúc này đã đạt đến vĩ độ cao nhất về phía bắc, hay còn gọi là chí tuyến Cự Giải hoặc chí tuyến Bắc. Mặt trời bất động trong một lúc, sau đó đảo ngược hướng và tiến về phía nam đường xích đạo. Ở chí tuyến Bắc này, thời gian ban ngày đạt đến độ dài cao nhất, sau đó bắt đầu giảm xuống, cũng như nhường chỗ cho thời gian ban đêm.

Cung Cự Giải bắt đầu vào ngày đầu tiên của mùa hạ và kết thúc sau đó khoảng 30 ngày. Trong giai đoạn này, những bản dạng hay thực thể được sinh ra hay bắt đầu ở Bạch Dương bắt đầu một chu kỳ ổn định mới. Trong suốt giai đoạn của Song Tử, sự triển nở có khuynh hướng hướng ra ngoài. Ở Song Tử, những sinh vật sống khám phá môi trường xung quanh của chúng và tiến đến việc hình thành nên các mối quan hệ cũng như hiểu rõ hơn về thế giới bên ngoài. Trong suốt giai đoạn của Cự Giải, sự triển nở lại có khuynh hướng thu vào trong. Những cây leo đã vươn ra khắp mặt đất hay hướng lên trên bầu trời, những mối quan hệ, giao kết, và ý tưởng được sinh ra ở Song Tử giờ đây có một cơ hội để trở nên vững chắc hơn. Sự phát triển củng cố cho các dạng sống mới. Đối với thực vật, thân và cành giờ đây trở nên dày dặn hơn. Đối với động vật, cơ bắp chúng trở nên săn chắc hơn, đặc biệt là cơ chân. Lãnh thổ được xác lập, ranh giới được định ra. Sự sống trong giai đoạn của Cự Giải tập trung vào việc phát triển một cơ sở vững chắc, một mái nhà, hoặc một nền móng. Cơ sở hay nền tảng cụ thể cho sự thể hiện mình của tương lai được thiết lập. Cự Giải chính là giai đoạn thống nhất bản thân mình. Những trải nghiệm trong giai đoạn Song Tử, những khái niệm đã được thành hình, và những phản hồi nhận được từ những con người/sự sống xung quanh giờ đây được thống nhất thành một bản dạng duy nhất.

Con cua, biểu tượng của Cự Giải, tượng trưng cho một ngôi nhà và sự an toàn, bảo bọc của ngôi nhà đó. Nó cũng tượng trưng cho những hành vi được dẫn dắt một cách vô tư lự bởi những cảm giác của cái tôi. Ký hiệu của Cự Giải tượng trưng cho bầu ngực, nơi mang đến sự nuôi dưỡng trong thời thơ ấu, và các càng của con cua, dùng để tự bảo vệ cho bản thân, nơi trú ngụ và gia đình của mình.

Theo truyền thống, Cự Giải là cung hoàng đạo được cai quản bởi Mặt trăng, là thế vượng của sao Mộc, thế tù của sao Thổ và thế suy của sao Hỏa.

Từ khóa thường được sử dụng cho Cự Giải là Tôi cảm thấy.

Trong tâm lý học phân tích của Jung, chức năng của cảm giác chính là đưa ra những phán đoán cá nhân. Tức là, phán đoán rằng nó tốt hay xấu cho bản thân mình và đưa ra những quyết định dựa trên những cảm nghĩ cá nhân đó.

Bộ phận cơ thể tương ứng với Cự Giải là bụng và bầu ngực.

Cự Giải tượng trưng cho những nền móng trong cuộc đời – ngôi nhà, gia đình, mái ấm, người mẹ, sự nuôi dưỡng và bảo vệ. Nó tượng trưng cho cả cơ thể và tính cách đã được nhất quán để làm phương tiện cho sự thể hiện bản thân. Cự Giải chính là những cơ sở hay nền móng cụ thể cho sự thể hiện bản thân trong tương lai. Nó là giai đoạn ổn định lại bản thân mình bằng cách thống nhất những vai trò, cảm nghĩ, cảm xúc và kinh nghiệm vào một tính cách tổng thể. Nét tính cách của Cự Giải được bộc lộ thông qua những tính cách như trung thành, đa cảm, ủy mị, chu đáo, biết quan tâm, bảo bọc, cảm thông cho người khác, và thích gắn bó với gia đình.

Các hành tinh ở cung Cự Giải có bản chất nhạy cảm và ưa bảo bọc, chăm sóc người khác. Chúng có thể hoạt động khá ủy mị, gắn chặt với cảm xúc về những thứ mà mình gắn bó, không ổn định và có những dao động theo chu kỳ.

Sư Tử

Cung Sư Tử bắt đầu sau ngày hạ chí khoảng 30 ngày. Ở bán cầu bắc, ngày vẫn dài hơn đêm dù số tiếng của ban ngày đang dần giảm xuống. Sự ngự trị của Mặt trời được cảm nhận trong cơn nóng mùa hè. Những cơ sở hay nền tảng được xây dựng trong giai đoạn của Cự Giải như nhà ở, thân thể và tính cách giờ đây trở thành nền tảng để thể hiện mình một cách sáng tạo.

Trong suốt giai đoạn của Sư Tử, thực vật nở rộ ra dưới những dáng hình tuyệt vời nhất. Nó phải thu hút ong bướm và chim chóc để có thể giúp mình thụ phấn. Sư Tử đại diện cho sự thể hiện mình, đặc biệt là những hình thức thể hiện bản thân để có thể thu hút người khác giới. Trong suốt giai đoạn này, tính cách đặc biệt của một cá nhân được thể hiện ra một cách đầy sáng tạo, cảm tính, dục tính và nghệ thuật. Những gì đã từng mang tính cá nhân và riêng tư giờ đây được phô bày và chia sẻ.

Như biểu tượng của mình, Sư Tử đại diện cho năng lượng cần thiết để khám phá những địa hạt mới và sự hiếu chiến để có thể bảo vệ nó. Ký hiệu của Sư Tử tượng trưng cho con sư tử đực, đặc biệt là phần đầu và bờm của nó.

Theo truyền thống, Sư Tử là cung hoàng đạo được cai quản bởi Mặt trời, là thế tù của sao Thổ và sao Thiên Vương. Sư Tử là một cung lửa kiên định, tức là, nó đại diện cho sự tập trung hoặc những gì được xây dựng trên niềm tin, cảm hứng, và mọi hình thức năng lượng tâm linh khác.

Từ khóa thường được sử dụng cho Sư Tử là Tôi sẽ.

Bộ phận cơ thể tương ứng với Sư Tử là tim và xương sống.

Sư Tử đại diện cho cảm xúc, sự sáng tạo, tình dục, đùa vui, trẻ em, dạy dỗ, kịch diễn, phim ảnh, trò chơi, cờ bạc, và sự cạnh tranh. Đây là giai đoạn để cảm xúc bộc lộ thành những hình hài có thể gây ấn tượng và giành được sự ngưỡng mộ. Sư Tử đại diện cho sự sáng tạo với cảm xúc của cái tôi cá nhân; sự sáng tạo với thể chất thông qua các hoạt động tình dục, trẻ con hay thể thao. Những tính cách thường thấy của Sư Tử có thể là: táo bạo, thích chỉ huy, lấn át người khác, chu đáo, dũng cảm, tiên phong, sáng tạo, kịch tính, vị kỷ, ích kỷ, hăng hái, hào nhoáng, lộng lẫy, kiêu kỳ, mạnh mẽ, tự tin.

Các hành tinh ở cung Sư Tử mang bản chất kiên định, khao khát thể hiện mình, sáng tạo, mạnh mẽ và đầy lòng tự hào. Những hoạt động của chúng gắn bó mật thiết với cái tôi, tính vị kỷ, và đôi khi, gần như là ái kỷ.

Khi một nhà có đỉnh ở cung Sư Tử, những vấn đề của nhà ấy sẽ được bộc lộ cùng sự sáng tạo và diễn cảm của chủ nhân bản đồ sao. Tuy nhiên họ cũng có thể khó tách rời với cái tôi của mình trong những hoạt động ở khu vực này.

Xử Nữ Thiên Bình Thiên Yết Nhân Mã Ma Kết Bảo Bình Song Ngư

__

Tiến sĩ Gene Collins là một chiêm tinh gia và nhà trị liệu tâm lý đã qua đào tạo chuyên môn. Ông đã gắn bó và thực hành chiêm tinh trong hơn 45 năm. Luận án và nhiều tiểu luận khác của ông đã góp mặt trong nhiều tạp chí chuyên môn tâm lý học. Bên cạnh đó, ông còn là tác giả của những tựa sách chiêm tinh khác: Cosmopsychology – The Psychology of Humans as Spiritual Beings (2009), Cosmopsychology – A Holistic Approach to Natal Astrology (2011), v.v..

__

Bài dịch được trích từ Natal Astrology for Beginners: Volume 1, đăng tải với sự đồng ý của tác giả.

© Gene Collins

Ảnh: Serbé San

Mười Hai Cung Hoàng Đạo

Theo các nhà thiên văn học thời cổ đại, trong khoảng thời gian chừng 30 – 31 ngày, Mặt Trời sẽ đi qua một trong mười hai chòm sao đặc biệt. Ai sinh ra trong thời gian Mặt Trời đi qua chòm sao nào thì họ sẽ được chòm sao đó chiếu mệnh và tính cách của họ cũng bị chòm sao ảnh hưởng nhiều. 12 chòm sao tạo thành 12 cung trong vòng tròn Hoàng đạo ( zodiac), có nghĩa “Đường đi của mặt trời”. Các cung hoàng đạo xếp theo thứ tự:

Virgo – Xử Nữ (Trinh Nữ, Thất Nữ), tương ứng với chòm sao Thất Nữ, (từ ngày 23/8 – 22/9)

Sagittarius – Nhân Mã hoặc Xạ Thủ, Cung Thủ, tương ứng với chòm sao Nhân Mã, (từ ngày 22/11 – 21/12)

Capricornus – Ma Kết, tương ứng với chòm sao Ma Kết, tức con dê có đuôi cá (từ ngày 22/12 – 19/1)

Bốn nhóm nguyên tố Hoàng Đạo

Vòng tròn Hoàng đạo chia thành 12 cung, phân ra 4 nguyên tố đã tạo ra của thế giới theo quan niệm phương Tây: Đất, lửa, nước, khí. Cứ ba cung là được xếp vào một nhóm nguyên tố, những cung cùng chung nhóm luôn tương hợp nhau nhất. Tuy nhiên, không phải hai cung khác nhóm lúc nào cũng kị nhau. Điển hình là nhóm Đất có thể kết hợp hài hòa cùng nhóm Nước và nhóm Lửa tương đối thích hợp với nhóm Khí.

– Nguyên tố đất: Ma Kết, Xử Nữ, Kim Ngưu. Những người nhóm đất rất chung thủy, cần cù, ôn hòa và khoan thai.

– Nguyên tố lửa: Dương Cưu, Sư Tử, Nhân Mã. Tính cách người nhóm lửa đặc biệt nồng cháy, đam mê, nông nổi nhưng rất gan dạ.

– Nguyên tố nước: Song Ngư, Cự Giải, Hổ Cáp. Người nhóm nước thường nhạy cảm, dễ bị tổn thương, có thiên hướng nghệ thuật.

– Nguyên tố khí (gió): Song Tử, Thiên Bình, Bảo Bình. Đặc điểm: Họ yêu tự do, thông minh, tính tình phóng khoáng, tư tưởng cấp tiến.

Mỗi nhóm nguyên tố này thường có một cung có tính chất của người thủ lĩnh. Đó là cung Bạch Dương (thủ lĩnh nhóm lửa), cung Ma Kết (thủ lĩnh nhóm đất), cung Cự Giải (thủ lĩnh nhóm nước) và cung Bảo Bình (thủ lĩnh nhóm khí).

Sao chiếu mệnh các cung

12 cung tương ứng với 12 ngôi sao và hành tinh, bao gồm cả Diêm Vương Tinh đã bị các nhà khoa học xóa khỏi danh sách các hành tinh hệ mặt trời:

Cung Bạch Dương được Hỏa Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần chiến tranh Mars trong thần thoại La Mã ( Ares của thần thoại Hi Lạp).

Cung Kim Ngưu được Kim Tinh bảo hộ, tượng trưng cho nữ thần Venus (thần Vệ Nữ Aphrodite).

Cung Song Tử được Thủy Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần đưa tin Mercury ( Hermes).

Cung Cự Giải được mặt trăng bảo hộ, tượng trưng cho nữ thần hôn nhân gia đình Junon ( Hera trong thần thoại Hi Lạp)

Cung Sư Tử được Mặt trời bảo hộ, tượng trưng cho thần mặt trời Helios, sự trung trực, uy quyền và sức mạnh.

Cung Xử Nữ (và Song Tử) được Thủy Tinh bảo hộ, tượng trưng cho trí tuệ, lòng chung thủy nhưng quá cầu toàn nguyên tắc.

Cung Thiên Bình được Kim Tinh bảo hộ giống như Kim Ngưu, cung này biểu tượng cho sắc đẹp, sự quyến rũ.

Cung Hổ Cáp được Diêm Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần thời gian Pluto ( Hades) Hades là thần cai quan âm phủ.

Cung Nhân Mã được Mộc Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần sấm sét Jupiter ( Zeus).

Cung Ma Kết được Thổ Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần địa ngục Saturn ( Cronos).

Cung Bảo Bình được Thiên Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần bầu trời Uranus.

Cung Song Ngư được Hải Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần biển Neptune ( Poseidon).

Sự kết hợp giữa các cung

Những cặp tương xứng nhất thường gồm những người thuộc cùng một nhóm – lửa/lửa, đất/đất, không khí/không khí và nước/nước.

Nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Các cung lại được chia thành 3 đặc tính: Thống lĩnh (tham vọng nhưng độc đoán), ổn định (quả quyết nhưng ương bướng) và biến đổi (dễ thích nghi nhưng hay thay đổi, không ổn định).

Thống lĩnh: Bạch Dương, Cự Giải, Thiên Bình và Ma Kết.

Ổn định: Kim ngưu, Sư tử, Hổ cáp và Bảo Bình.

Biến đổi: Song Tử, Xử Nữ, Nhân Mã và Song ngư.

Những người thuộc cùng một nhóm này rất khó hòa hợp được với nhau, dễ xảy ra va chạm. Ví dụ: Bạch Dương khá xung khắc với Cự Giải, Thiên Bình và Ma Kết.

Các cung phân chia tiếp thành 2 loại: Chủ động và Bị động. Lửa, không khí thường mang tính tích cực và chủ động, trong khi đất và nước lại tiêu cực hoặc bị động.

Chủ động: Dương cưu, Song sinh, Sư tử, Thiên bình, Nhân mã và Bảo bình – thường hoà đồng và cởi mở.

Bị động: Kim ngưu, Cự giải, Xử nữ, Hổ cáp, Nam dương và Song ngư – thường thu mình và khiêm nhường.

Dựa vào những yếu tố trên thì rõ ràng rất khó để có một cặp hoàn hảo. Để trái tim và bộ óc đi chung với nhau luôn là một thách thức, cũng giống như việc chịu đựng quan điểm, cách cư xử và thói quen của mỗi người. Vậy đâu là chìa khoá cho hạnh phúc? Nó chính là sự thoả hiệp, cho – và – nhận. Mọi người nên nhận ra rằng sự khác biệt luôn tồn tại, vì vậy cần phải chấp nhận cái bất đồng đó để có thể duy trì mối quan hệ.

Những đôi thực sự hoà hợp là có cùng cung hoàng đạo, nhưng thậm chí sự quen thuộc cũng gây nên cảm giác nhàm chán sau này. Ngoài ra, kể cả đàn ông và đàn bà cùng một cung cũng khác nhau do giới tính của họ.

Bởi vậy người ta vẫn thường nói đàn ông đến từ sao Hoả, phụ nữ đến từ sao Kim.

Nguyễn Hoàng Linh @ 00:22 25/06/2011 Số lượt xem: 1115

Cô Nàng Tháng Mười Hai

Cô nàng tháng Mười Hai, cô nàng Nhân Mã.

Cô nàng Nhân Mã có trí hướng cao xa, giàu triết lý và không chịu thua kém, luôn lạc quan và ngẩng cao đầu. Cô nàng Nhân Mã trong đầu nghĩ gì thì ngoài lưỡi nói vậy. Cô nàng Nhân Mã bản tính trung thực không ưa nói dối. Cô nàng Nhân Mã rộng lượng và đa tình nhất trong 12 cung Hoàng đạo. Cũng là cô nàng chiếm lĩnh ngôi sao Mộc, ngôi sao được coi là may mắn nhất trong vòng Hoàng đạo…

Cô nàng Nhân Mã không nhìn đời bằng cặp kính màu hồng. Chính vì thế, quan điểm của nàng có thể tỏ ra quá gay gắt. Nàng chân thực đến nỗi có lúc bạn mong sao nàng nói dối một chút. Bởi vì không phải mỗi ai, không phải bất cứ lúc nào cũng muốn nghe sự thật trần trụi, và với nhiều người thì được nịnh vẫn thích hơn.

Nàng có tính tự lập rất cao, thờ ơ đối với các quan hệ họ mạc và thích sống một mình. Có lẽ nét đặc biệt này lý giải tại sao Cung Thủ nữ quá đam mê viễn du và không quen thường xuyên có mặt ở nhà.

Nếu muốn nàng làm một điều gì đó cho bạn, thì đừng ra lệnh, mà hãy đề nghị. Thậm chí thời nhỏ tuổi nàng còn không chịu nghe người mẹ sai khiến, thì vì cớ gì mà bạn nghĩ rằng nàng có thể để bạn làm việc đó? Đừng hy vọng. Nhân Mã không đời nào chịu hy sinh tự do, cá tính, hay thói quen của mình lấy bất cứ giá nào.

Trong thâm tâm sâu kín, nàng là một đứa trẻ cả tin. Thế giới quan của nàng trong sáng đến nỗi dễ bị kẻ khác lừa. Khẳng định này của các nhà chiêm tinh có vẻ hơi lạ lùng, bởi vì đàn bà Nhân Mã là người thông minh và tư duy logic. Nhưng vấn đề ở đây chúng ta đang nói không phải là về trí thông minh, mà là về trái tim. Hai thứ hoàn toàn khác nhau. Trí tuệ của Nhân Mã đủ khả năng giải quyết mọi bài toán khó khăn của cuộc sống. Nhưng trái tim nàng, than ôi, hoàn toàn yếu đuối, và chính vì thế nàng nhiều khi phải chịu đau khổ.

Ở Nhân Mã, lời nói và hành động hoàn toàn tương đồng với ý nghĩ và cảm xúc bên trong. Tính “thẳng ruột ngựa” như vậy có thể làm cho người khác không hiểu nàng, dẫn đến bất hoà và kết quả là những mảnh đời tan vỡ. Nhưng ý chí của Nhân Mã vẫn không bao giờ khuất phục. Lòng kiêu hãnh và lạc quan giúp nàng vượt qua sóng gió và vẻ vang thoát khỏi những hoàn cảnh bi đát nhất. Trái tim nàng có thể rớm máu, nhưng bạn không bao giờ biết được điều đó, bởi vì nàng sẽ cười đùa còn nhiều hơn khi khác. Chỉ đêm đêm, gối nàng sẽ ướt đầm nước mắt. Nhưng không ai nhìn thấy điều đó, và mọi người đều nghĩ rằng mọi chuyện của nàng vẫn ổn thoả như bình thường.

Nói về người vợ sinh cung Nhân Mã, các nhà chiêm tinh cho biết, cũng như đàn ông cung này, nàng không phải người hướng tới hôn nhân. Vì thế, bạn buộc phải có không ít mồi ngon để dụ dỗ nàng.

Thiếu gì lý do để nàng không vội lấy chồng. Trước hết, nàng có thể không muốn ảnh hưởng công việc đang làm. Không nên thuyết phục nàng. Đằng nào nàng cũng sẽ chỉ hành động theo ý mình. Hãy chờ đợi đến khi thời cơ và hoàn cảnh có lợi cho bạn. Chẳng hạn, bỗng nhiên nàng chán công việc. Hoặc bạn được bổ nhiệm công việc ở một địa phương khác (hãy nhớ đến đam mê viễn du của nàng). Tóm lại, nếu kiên nhẫn, bạn sẽ thắng hiệp này.

Đôi khi bạn thấy nàng hơi khắc nghiệt, nhưng đó chỉ là vẻ ngoài. Thực ra, nàng lãng mạn khủng khiếp. Nhân Mã có thể khóc khi xem một bộ phim, đọc bài thơ với cặp mắt đầy lệ. Nàng sẽ giữ tất cả những bức thư nhận được từ bạn, cả bông hồng khô úa còn lại từ bó hoa mà bạn trao nàng trong ngày đính hôn, và cả tấm vé xem hoà nhạc lần đầu khi các bạn vừa quen nhau.

Rất hiếm khi Nhân Mã có tâm trạng buồn bực. Khi tức giận, nàng có thể trở nên cay độc. Nhưng nàng không để bụng lâu và thường quên giận sớm hơn cả lúc bạn nhận ra nó. Những đàn ông thuộc loại đa sầu, bi quan – không hợp với Nhân Mã. Sự rầu rĩ, ủ rũ có thể khiến nàng phát ốm.

Con cái rất sung sướng với người mẹ Nhân Mã, bởi trong nhà nàng hầu hết thời gian vui như rạp xiếc. Bạn biết đấy, sự hân hoan, tiếng cười và tinh thần lạc quan tràn trề – môi trường tuyệt vời để nuôi dạy trẻ em. Thêm vào đó là lòng trung thực, dũng cảm và trí thông minh. Điều duy nhất có thể coi là nhược điểm: tính thiếu nề nếp, kỷ luật.

Người vợ Nhân Mã của bạn rất thích mời và tiếp khách đến nhà. Nàng làm việc đó tuyệt vời hơn mọi cung Hoàng đạo khác, kể cả Sư Tử. Lòng nhân hậu, hồn nhiên và hiếu khách của nàng có sức lôi cuốn đến nỗi mọi người đều thấy rất ấm cúng, dễ chịu.

Đàn bà Nhân Mã là người sống bằng tâm hồn. Bạn sẽ thấy rõ điều đó khi vào một ngày tuyệt đẹp, nàng thổ lộ với bạn rằng đã tìm kiếm bạn cả cuộc đời, suốt từ thuở ấu thơ, và hạnh phúc biết bao vì cuối cùng đã tìm được.

Ít ra thì các nhà Chiêm tinh học đã nói thế!

Tháng Mười Hai 20, 2008

“Kế sách” cho bạn: Bởi vì Bạch Dương khá nóng nảy và lúc nào cũng muốn “nhanh nhanh chóng chóng”. Thế nên, “cứ từ từ mà tiến” là kế sách khả thi hơn cả. Bạn không việc gì phải vội vàng tấn công cô nàng, sự khoan thai, chậm rãi của bạn sẽ khiến cho cô nàng sốt ruột phát điên mà tự nhảy xổ vào bạn đấy ^_*. Bạch Dương là vậy, cái gì càng khó thì càng muốn lao vào. Cơ hội tuyệt vời cho bạn đấy.

Kim Ngưu (20/4 – 20/5)

“Yếu điểm” của nàng: Nàng rất hay nghi ngại và lúc nào cũng rón ra rón rén, cái gì cũng phải thật chắc chắn thì mới làm T_T.

“Kế sách” cho bạn : Chính vì hơi thiếu chắc chắn trong mọi chuyện (mà cô nàng thì không phải không biết rõ tính của mình), thế nên, tạo cho cô ấy niềm tin và cho cô ấy quyền quyết định một chuyện khá là to tát nào đó, nàng sẽ sướng điên lên cho mà xem. Hãy thử để cô ấy quản lí một phần tài chính của bạn chẳng hạn hay tham khảo ý kiến của cô ấy về một khoản đầu tư nào đó. Nếu cô ấy cảm thấy bạn đặt niềm tin vào cô ấy và cô ấy cũng tin tưởng bạn thì lúc đó, nàng sẽ ngoan ngoãn như một cô mèo mun ngay.

Song Sinh (21/5 – 21/6)

“Yếu điểm” của nàng: Dễ thay đổi và hay suy nghĩ lại như chong chóng.

“Kế sách” cho bạn: Bạn quay cuồng với những quyết định 2s của cô ấy. Vậy thì, hãy lấy “Tĩnh” trấn “Động”, cô ấy sẽ nhận ra bạn là một chàng trai đặc biệt, không a dua như những chàng trai khác, vậy nên, “đổ” là đương nhiên thôi. Hơn nữa, “chiều” quá thì sẽ bị nhờn và coi thường, cần phải giữ phong độ và “phấm cách” của mình chứ nhỉ ^^?

Cự Giải (22/6 – 22/7)

“Yếu điểm” của nàng: Không tự tin, luôn thích tự trách cứ mình và hợi chặt chẽ (đặc biệt với bản thân).

“Kế sách” cho bạn : Cái bạn cần là hãy làm cho cô ấy tự tin vào bản thân hơn. Hãy luôn ở bên để động viên và giúp cô ấy tin rằng cô ấy có thể làm được mọi thứ. Đến khi cô ấy đã có vẻ tự tin hơn kha khá rùi, hãy thử rút lui xem sao. Sẽ đến lúc cô nàng nhận ra rằng, chỉ có ở bên bạn thì cô ấy mới giữ được sự tự tin và thoải mái. Chà chà, thật là một kế sách hoàn hảo đây.

Sư Tử (23/7 – 22/8)

“Yếu điểm” của nàng: Quá đa cảm, nhân hậu và… ưa nịnh!!!

Biểu tượng cung Xử Nữ

“Yếu điểm” của nàng: Rất cố chấp và ít khi chịu nói lời “Xin lỗi”.

“Kế sách” cho bạn : Nếu bạn định sử dụng một chính sách không khoan nhượng là bạn đang mắc sai lầm đấy. Hãy chiều lòng sự cố chấp của cô ấy vô điều kiện. Rồi sẽ có lúc, cô ấy nhận ra mọi người khó chịu thế nào trước tính cách của nàng. Khi đó, bạn hãy đóng vai anh chàng quân sư, quạt mát sự bực dọc của cô ấy và nàng thì nhận ra rằng “trên đời này chỉ có mỗi mình anh hiểu em mà thôi!”.

Thiên Bình (23/9 – 23/10)

“Yếu điểm” của nàng: Rất sành điệu và ưa làm đẹp, đôi khi hơi trọng hình thức.

“Kế sách” cho bạn : Bởi vì nàng có vẻ quá yêu hình thức của mình, thế nên một anh chàng muốn ghi điểm thì tất nhiên phải thoả mãn được nhu cầu thiết yếu ấy của nàng. Đôi khi chỉ là những đồ phụ kiện bé bé xinh xinh thôi nhưng phản ánh đúng xu hướng sẽ làm cho nàng thích lắm í. Và tỉ lệ thuận với vẻ ngoài lung linh và ngày càng đẹp hơn của cô nàng, hình ảnh bạn đối với nàng cũng sẽ ngày càng long lanh ^^.

Bọ Cạp (24/10 – 21/11)

“Yếu điểm” của nàng: Rất giỏi… giả nai! Nhìn bề ngoài thì ngơ ngơ ngác ngác nhưng bên trong thì không biết đang âm mưu những gì.

“Kế sách” cho bạn: “Lấy độc trị độc”, nếu nàng lúc nào cũng giả ngây thơ thì bạn sẽ tỏ ra ngây thơ chả kém gì cô ấy. Nhưng khi nàng thể hiện sự thông minh của mình thì bạn cũng phải thông minh còn hơn cô ấy. Sự “bí ẩn khó đoán” và bất ngờ sẽ khiến cô nàng công nhận bạn như một đối thủ “có 1 – 0 – 2” và sẽ nhanh chóng bị chinh phục thôi.

Nhân Mã (22/11 – 21/12)

“Yếu điểm” của nàng: Rất thẳng thắn và nghiêm túc, đặc biệt sự xuất sắc và khéo léo của cô nàng luôn khiến người khác phải nể phục.

Ma Kết (22/12 – 19/1)

“Yếu điểm” của nàng: Con gái Ma Kết thường rất thực tế và cầu tiến. Nghĩa là nàng rất ham học hỏi và hơi mê xiền bạc.

“Kế sách cho bạn”: Các nàng Ma kết sẽ ngó đến tình hình tài chính của bạn trước khi ngó xem mặt mũi “đầu cua tai nheo” của bạn thế nào. Vì thế, hãy chuẩn bị cho mình một sự nghiệp thật ngon lành trước khi tấn công hoặc ít ra phải tỏ ra là một anh chàng ấp ủ nhiều kế hoạch khả thi, có đầu óc kinh doanh và chí tiến thủ.

Bảo Bình (20/1 – 18/2)

“Yếu điểm” của nàng: Quá mạnh mẽ, quá quyết đoán và chủ động trong mọi việc, đã quyết cái gì thì khó ai thay đổi được.

Song Ngư (19/2 – 20/3)

“Yếu điểm” của nàng: Quá hiền lành, yếu đuối và nhút nhát. Dễ bị ăn “dưa bở” bởi trí tưởng tượng quá phong phú.

“Kế sách” cho bạn: Vì cô nàng rất lãng mạn như thế, cho nên cách lấy lòng nàng tốt nhất là phải chiều sự lãng mạn của nàng thôi. Chỉ cần vừa nhắn tin cho nàng “Anh nhớ em”, 5 phút sau, đã xuất hiện trước nhà nàng với một bông hồng (mà lúc ấy là đêm khuya khoắt ấy nhá) hoặc là cởi áo khoác của bạn và choàng lên người nàng để che cơn mưa mùa hạ làm ướt áo… Wow, nàng sẽ chết đứ đừ cho mà xem.

Truyện Hành Tinh Thứ Mười Hai

tưởng về việc những sinh vật thông minh đã đến thăm Trái đất từ một nơi nào đó khiến ta đặt câu hỏi về sự tồn tại của một thiên thể khác mà trên đó những sinh vật thông minh này đã tạo dựng nên một nền văn minh tiến bộ hơn nền văn minh của chúng ta.

Trong quá khứ, giả định về khả năng đã có cuộc viếng thăm của những sinh vật thông minh bên ngoài xuống Trái đất tập trung coi các hành tinh như sao Hỏa hay sao Kim là nơi xuất phát của họ. Tuy nhiên, hiện nay khi chúng ta gần như có thể chắc chắn rằng 2 hành tinh gần Trái đất này không hề có sinh vật thông minh cũng không có nền văn minh tiến bộ nào, thì những người tin vào sự tồn tại những chuyến viếng thăm như vậy tới Trái đất lại cho rằng các thiên hà khác cùng các vì sao xa xôi là điểm xuất phát của những nhà du hành vũ trụ ngoài hành tinh đó.

Ưu điểm của những ý kiến này là tuy chúng không thể chứng minh nhưng cũng không ai có thể bác bỏ được chúng. Nhược điểm là những “điểm xuất phát” này lại cực kỳ cách xa Trái đất, phải mất nhiều năm du hành với tốc độ ánh sáng mới tới được. Tác giả của những ý kiến này lại đưa ra giả thiết về những chuyến đi một chiều tới Trái đất: một nhóm các nhà du hành vũ trụ thực hiện nhiệm vụ một đi không trở lại, hoặc có lẽ là một con tàu vũ trụ bị lạc đường và mất kiểm soát rồi lao xuống Trái đất.

Đây rõ ràng không phải là quan điểm của người Sumer về Thiên Cung của các vị Thần.

Người Sumer thừa nhận sự tồn tại của một “Thiên Cung”, một “chốn thuần khiết”, một “cung điện nguyên sinh” như vậy. Trong khi Enlil, Enki và Ninhursag xuống Mặt đất và cư ngụ ở đó thì người cha Anu của họ vẫn ở lại cai trị Thiên Cung. Không chỉ thỉnh thoảng được nhắc đến trong nhiều ghi chép, 21 cặp thần linh của vương triều trước Anu trên ngai vàng của “chốn thuần khiết” còn thực sự được liệt kê trong những “danh sách thần linh” chi tiết.

Còn Anu ngự trên một cung điện huy hoàng và rộng lớn. Theo lời Gilgamesh (cũng như xác nhận trong Sách Tiên tri Ezekiel) thì đó là một cung điện với một khu vườn nhân tạo được chạm khắc toàn bộ bằng đá bán quý. Ở đó Anu ngự trị cùng với người vợ chính thức là Antu và 6 phi tần, 80 người con (trong đó có 14 người con với Antu), 1 Thừa Tướng, 3 Chỉ huy trưởng phụ trách các Mu (tàu tên lửa), 2 Chỉ huy trưởng về Vũ khí, 2 Tổ Sư về Kiến thức, 1 Thượng thư Bộ hộ, 2 Chánh án, 2 “người có dấu ấn mạnh mẽ”, 2 người phụ trách việc ghi chép cùng với 5 trợ lý ghi chép.

Các ghi chép của người Mesopotamia thường nhắc đến vẻ tráng lệ của Cung điện Anu cùng các vị thần và vũ khí canh gác lối vào. Câu chuyện về Adapa kể rằng thần Enki sau khi cấp cho Adapa một chiếc shem,

Chỉ đường cho ông tới Thiên đường,

và ông bay lên Thiên đường.

Khi ông tới được Thiên đường,

ông đến Cánh cổng của Anu.

Tammuz và Gizzida đang đứng gác

bên Cánh cổng của An.

Được bảo vệ bằng 2 loại vũ khí chúng tôi (“thợ săn hoàng gia”) và chúng tôi (“sát thủ hoàng gia”), Cung điện của Anu là nơi Hội đồng các vị Thần tụ họp. Vào những dịp tụ họp như vậy, một đạo luật nghiêm ngặt quy định thứ tự đi vào và chỗ ngồi được đưa ra:

Enlil bước vào Cung điện của Anu,

ngồi xuống chỗ của chiếc mũ thiêng tiara,

phía bên phải của Anu.

Ea bước vào cung điện của Anu,

ngồi xuống chỗ của chiếc mũ thiêng tiara,

phía bên trái của Anu.

Các vị thần của Thiên đường và Mặt đất ở vùng Cận Đông cổ đại không những có nguồn gốc từ Thiên đường mà còn có thể trở về Thiên Cung. Anu thỉnh thoảng có những chuyến thăm chính thức xuống Mặt đất; Ishtar trở về với Anu ít nhất hai lần. Trung tâm thờ cúng của Enlil tại Nippur được xây dựng như một “sợi dây” “kết nối trời-đất”. Shamash là vị thần phụ trách Đại bàng và bãi phóng tàu tên lửa. Gilgamesh bay lên tới Cung điện Bất tử và quay trở về Uruk; Adapa cũng thực hiện chuyến hành trình đó và trở về kể cho mọi người nghe; vua Tyre trong Kinh thánh cũng vậy.

Rất nhiều ghi chép của người Mesopotamia nhắc tới từ Apkallu, thuật ngữ tiếng Akkad có nguồn gốc từ chúng tôi trong tiếng Sumer có nghĩa là “Đấng Vĩ đại dẫn đầu” hay “người thầy chỉ lối”. Nghiên cứu do Gustav Guterbok (Die Historische Tradition und Ihre Literarische Gestaltung bei Babylonier und Hethiten – Truyền thống lịch sử văn học và thiết kế thời Babylon và Hittite) thực hiện đã xác định rằng họ là những “điểu nhân” được khắc họa như “Đại bàng” mà chúng tôi đã đề cập ở trên. Những ghi chép nói về các chiến công của họ kể rằng một người trong số đó “đã đưa Inanna từ Thiên đường xuống đền E-Anna”. Điều này và nhiều chi tiết khác chứng tỏ rằng các Apkallu này chính là những phi công lái tàu vũ trụ của người Nefilim.

Hành trình hai chiều không chỉ tạo điều kiện mà trong thực tế như chúng tôi được biết, đã thúc đẩy việc xem xét đưa ra quyết định thiết lập Cánh cổng các vị Thần (Babili) ở Sumer, vị thần đứng đầu thần giới đã giải thích:

Khi đặt chân đến Cội nguồn Nguyên thủy

mà các ngươi bay lên để hội họp,

Sẽ có chỗ nghỉ ngơi qua đêm

đón tiếp tất cả các ngươi.

Khi từ Thiên đường

các ngươi xuống để hội họp,

Sẽ có chỗ nghỉ ngơi qua đêm

đón tiếp tất cả các ngươi.

Với ý niệm rằng hành trình hai chiều giữa Mặt đất và Thiên Cung vừa được dự tính vừa được thực hiện, người dân Sumer đã không đặt các vị thần của mình ở những thiên hà xa xôi. Di sản mà họ để lại cho ta biết rằng Cung điện của các vị thần nằm chính trong hệ Mặt trời của chúng ta.

Chúng ta đã nhìn thấy Shamash trong bộ đồng phục Chỉ huy trưởng các “Đại bàng”. Trên mỗi cổ tay của vị thần này có đeo một đồ vật trông giống như chiếc đồng hồ được cố định bằng đai kim loại. Những hình vẽ khác về các Đại bàng cho thấy tất cả những nhân vật quan trọng đều đeo đồ vật đó. Chúng ta không biết có phải chúng chỉ là những vật trang trí đơn thuần hay có một mục đích hữu dụng nào đó. Nhưng tất cả các chuyên gia đều nhất trí rằng những đồ vật này đều có hình hoa hồng, đó là một cụm “cánh hoa” hình tròn hướng tâm. (Hình 86)

Hình hoa hồng là biểu tượng trang trí đền thờ phổ biến nhất ở các vùng đất cổ đại này và thịnh hành ở Mesopotamia, Tây Á, Anatolia, Cyprus, đảo Crete và Hy Lạp. Quan điểm rằng hình hoa hồng, biểu tượng của đền thờ là sự phát triển hay biểu tượng hóa của một hiện tượng thiên văn – đó là mặt trời được bao quanh bởi các vệ tinh của nó – đã được chấp nhận rộng rãi. Việc các nhà du hành vũ trụ cổ đại đeo trên tay biểu tượng này càng củng cố vững chắc quan điểm này hơn.

Một bức họa của người Assyria về Cánh cổng của Anu trên Thiên Cung (Hình 87) cho thấy người cổ đại cũng biết đến hệ thiên thể như Mặt trời và các hành tinh của nó. Cánh cổng được hai Đại bàng canh gác – điều này thể hiện rằng để tới được Thiên Cung thì cần phải có sự phục vụ của họ. Quả cầu có cánh – biểu tượng thần linh tối cao – đánh dấu ở lối vào. Nó được bảo vệ bởi 7 biểu tượng thiên văn và hình trăng lưỡi liềm, (mà chúng tôi tin là) biểu thị cho Anu được bảo vệ bởi Enlil và Enki.

Những thiên thể mà các biểu tượng này đại diện nằm ở đâu? Thiên Cung nằm ở đâu? Người họa sỹ cổ đại đưa ra câu trả lời bằng một hình vẽ khác thể hiện một vị thần lớn đang tỏa những tia sáng tới 11 thiên thể nhỏ hơn bao quanh. Đó là biểu tượng cho Mặt trời cùng với 11 hành tinh trên quỹ đạo.

Ta có thể chứng minh đây không phải là một biểu tượng cá biệt vì có nhiều hình vẽ khác trên các con dấu lăn, giống như con dấu này tại Bảo tàng Cận Đông cổ đại ở Berlin. (Hình 88)

Khi phóng đại hình vị thần hay thiên thể trung tâm trên con dấu ở bảo tàng Berlin này (Hình 89) ta có thể thấy rằng nó khắc họa một ngôi sao lớn tỏa sáng 11 thiên thể hay hành tinh bao quanh. Những thiên thể này lại dựa trên một chuỗi 24 quả cầu nhỏ hơn. Liệu đây có đơn thuần là sự trùng hợp khi số lượng tất cả các “mặt trăng”, hay còn gọi là vệ tinh của các hành tinh trong hệ Mặt trời của chúng ta cũng chính xác là 24?

Dĩ nhiên đến đây sẽ có người cho rằng những bức họa vẽ Mặt trời và 11 hành tinh này là dạng thức mô phỏng chính Hệ Mặt trời của chúng ta, bởi các chuyên gia nói rằng Trái đất nằm trong hệ thiên văn bao gồm Mặt trời, Trái đất và Mặt trăng, sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương và sao Diêm Vương. Như vậy tổng cộng chỉ có Mặt trời và mười hành tinh (khi Mặt trăng được tính là một hành tinh).

Nhưng đó không phải là những gì mà người Sumer nói. Họ cho rằng Hệ Mặt trời của chúng ta bao gồm Mặt trời và 11 hành tinh (tính cả Mặt trăng) và trung thành với quan điểm rằng ngoài những hành tinh mà chúng ta biết hiện nay, còn có một thành viên thứ mười hai của Hệ Mặt trời – hành tinh nơi có những người Nefilim.

Chúng tôi sẽ gọi hành tinh đó là Hành tinh thứ Mười hai.

***

Ngày nay chúng ta biết rằng trong Hệ Mặt trời ngoài 2 hành tinh khổng lồ sao Mộc và sao Thổ có 2 hành tinh lớn nữa là sao Thiên Vương và sao Hải Vương cùng một hành tinh thứ ba nhỏ hơn là sao Diêm Vương. Nhưng gần đây chúng ta mới phát hiện ra chúng. Sao Thiên Vương được phát hiện vào năm 1781 nhờ việc ra đời và sử dụng kính thiên văn cải tiến. Sau khi tiến hành quan sát trong 50 năm, một số nhà thiên văn học đi đến kết luận rằng quỹ đạo của hành tinh này chịu ảnh hưởng của một hành tinh khác nữa. Bằng các phép tính toán học như vậy vào năm 1846 các nhà thiên văn học đã xác định chính xác hành tinh còn thiếu đó – đó chính là sao Hải Vương. Rồi đến cuối thế kỷ XIX, có bằng chứng cho thấy chính sao Hải Vương cũng là đối tượng của lực hấp dẫn bí ẩn. Có phải đó là của một hành tinh khác trong Hệ Mặt trời của chúng ta? Câu hỏi này được giải đáp vào năm 1930 với việc quan sát và xác định được sao Diêm Vương.

Nhưng đến tận năm 1780 và nhiều thế kỷ trước đó người ta vẫn tin rằng Hệ Mặt trời của chúng ta có 7 hành tinh: Mặt trời, Mặt trăng, sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ. Trái đất không được coi là một hành tinh vì người ta tin rằng các thiên thể khác quay quanh Trái đất – thiên thể quan trọng nhất do Chúa tạo ra, với sản phẩm sáng tạo quan trọng nhất của Chúa là Con người ở trên đó.

Các sách giáo khoa của chúng ta thường coi Nicolaus Copernicus là người phát hiện ra Trái đất chỉ là một trong 7 hành tinh trong hệ nhật tâm (lấy Mặt trời làm trung tâm). Lo sợ sự phẫn nộ của nhà thờ Công giáo vì đã bác bỏ thuyết Trái đất là trung tâm, Copernicus chỉ dám xuất bản nghiên cứu của mình (De revolutionibus orbium coelestium – Các cuộc cách mạng trong không gian) vào những giờ phút cuối cùng của cuộc đời năm 1543.

Những khái niệm thiên văn trước đây dựa trên các truyền thuyết Hy Lạp và La Mã rằng Trái đất phẳng và được bao phủ bằng một vòm trời phía trên, trong vòm trời đó vị trí các ngôi sao là cố định. Bên dưới vòm trời đầy sao đó các hành tinh (planet – có nguồn gốc là từ “kẻ lang thang – wanderer” trong tiếng Hy Lạp) chuyển động quanh Trái đất. Như vậy có tất thảy 7 thiên thể và chúng là nguồn gốc của 7 ngày trong tuần cũng như tên gọi của các ngày đó: Mặt trời (Sunday – Chủ nhật), Mặt trăng (Moon – Thứ hai), sao Hỏa (mardi), sao Thủy (mercredi), sao Mộc (jeudi), sao Kim (vendredi), sao Thổ (Saturday – thứ Bảy). (Hình 90)

Các khái niệm thiên văn này bắt nguồn từ các công trình nghiên cứu và luật lệ của Ptolemy, một nhà thiên văn ở thành Alexandria, Ai Cập vào thế kỷ thứ II SCN. Phát hiện của ông chính là Mặt trời, Mặt trăng và năm hành tinh khác quay quanh Trái đất. Thuyết thiên văn của Ptolemy đã thống trị hơn 1.300 năm cho đến khi Copernicus đặt Mặt trời vào vị trí trung tâm.

Trong khi một số người gọi Copernicus là “Cha đẻ của Thiên văn học hiện đại” thì những người khác lại coi ông như là người nghiên cứu và xây dựng lại những ý tưởng đã có từ trước. Thực tế là Copernicus đã nghiền ngẫm ghi chép của các nhà thiên văn Hy Lạp trước thời Ptolemy như Hipparchus và Aristarchus ở Samos. Vào thế kỷ thứ III TCN Aristarchus cho rằng có thể giải thích được chuyển động của các thiên thể hợp lý hơn với giả thiết Mặt trời nằm ở vị trí trung tâm chứ không phải Trái đất. Thực tế, 2.000 năm trước thời Copernicus, các nhà thiên văn Hy Lạp đã lên danh sách các hành tinh theo thứ tự chính xác tính từ Mặt trời, theo đó thừa nhận rằng Mặt trời mới là tâm điểm của Hệ Mặt trời chứ không phải Trái đất.

Copernicus chỉ là người khai phá lại khái niệm nhật tâm; và một thực tế thú vị là các nhà thiên văn những năm 500 TCN lại hiểu biết nhiều hơn những người sống vào năm 500 và 1500 sau Công nguyên.

Quả thực hiện nay các chuyên gia khó có thể lý giải được tại sao đầu tiên là người Hy Lạp rồi đến người La Mã đều cho rằng Trái đất bằng phẳng nằm trên một lớp nước tối đen phía dưới là Âm phủ hay “Địa ngục”, trong khi một số bằng chứng do các nhà thiên văn Hy Lạp đưa ra từ thời trước lại cho biết điều ngược lại.

Hipparchus, người sống ở vùng Tiểu Á vào thế kỷ thứ II TCN đã bàn về “dấu hiệu điểm chí và điểm phân”, hiện tượng mà ngày nay chúng ta gọi là tuế sai của các phân điểm. Nhưng hiện tượng này chỉ có thể giải thích được theo quan điểm của “thiên văn học hình cầu”, theo đó Trái đất là một quả cầu được bao quanh bởi các thiên thể khác cùng nằm trong một vũ trụ hình cầu.

Như vậy có phải Hipparchus đã biết rằng Trái đất là một quả cầu và liệu ông có thực hiện các tính toán của mình theo quan điểm thiên văn học hình cầu? Một câu hỏi khác cũng quan trọng không kém. Hiện tượng tuế sai có thể quan sát được bằng cách liên hệ thời điểm sang xuân với vị trí của Mặt trời (được nhìn từ Trái đất) trong một chòm sao hoàng đạo nhất định. Nhưng quá trình chuyển từ chòm sao hoàng đạo này sang chòm sao hoàng đạo khác mất đến 2.160 năm. Dĩ nhiên là Hipparchus không thể sống lâu đến vậy để thực hiện quan sát thiên văn đó. Vậy ông đã lấy những thông tin này từ đâu?

Eudoxus, xứ Cnidus, một nhà toán học và thiên văn học cũng sống ở vùng Tiểu Á trước Hipparchus 2 thế kỷ đã chế tác một thiên cầu, bản sao của nó được dựng ở La Mã chính là bức tượng Atlas chống đỡ thế giới. Các hình vẽ trên quả cầu thể hiện các chòm sao hoàng đạo. Nhưng nếu Eudoxus coi bầu trời là một quả cầu thì vị trí của Trái đất trong mối tương quan với bầu trời là ở đâu? Có phải ông cho rằng thiên cầu nằm trên Trái đất bằng phẳng – cách bố trí kệch cỡm nhất – hay ông đã biết rằng Trái đất là một quả cầu được bao bọc bởi thiên cầu? (Hình 91)

Tuy bản gốc các công trình nghiên cứu của Eudoxus đã bị thất lạc nhưng chúng ta vẫn biết tới chúng nhờ vào những bài thơ của Aratus, một người sống ở thế kỷ thứ III TCN, người đã “diễn dịch” các phát hiện của nhà thiên văn này bằng ngôn ngữ thi ca. Trong bài thơ này (mà St. Paul rất quen thuộc vì đã trích dẫn nó), các chòm sao được mô tả rất chi tiết “như được vẽ ra một cách tài tình”; và việc quy nhóm, đặt tên cho các chòm sao đó đã có từ thời rất xa xưa. “Người xưa đã suy nghĩ và lên kế hoạch đặt tên và tìm ra những hình thức phù hợp.”

Vậy những “người xưa” mà Audoxus cho là đã đặt tên cho các chòm sao này là ai? Dựa vào một số chi tiết trong bài thơ, các nhà thiên văn đương đại tin rằng các câu thơ của người Hy Lạp này mô tả bầu trời theo vị trí quan sát ở Mesopotamia vào khoảng năm 2200 TCN.

Thực tế, việc cả Hipparchus và Eudoxus đều sống ở vùng Tiểu Á khiến ta càng có cơ sở tin rằng họ đã nắm được những tri thức này từ người Hittite. Thậm chí có lẽ họ đã tới thăm kinh đô của người Hittite và xem được hình vẽ đám rước thần linh được khắc trên đá ở đó, bởi trong đoàn diễu hành các vị thần có 2 vị mình người đầu bò đỡ một quả cầu – một cảnh tượng có thể đã gợi cảm hứng cho Eudoxus tạc nên bức tượng Atlas chống đỡ bầu trời. (Hình 92)

Liệu có phải các nhà thiên văn Hy Lạp sinh sống ở vùng Tiểu Á nắm bắt được nhiều thông tin hơn các bậc tiền bối vì họ tận dụng được nguồn tri thức của người Mesopotamia?

Trong thực tế, Hipparchus đã thừa nhận trong các ghi chép của mình rằng các nghiên cứu của ông đều dựa trên những kiến thức được tích lũy và chứng thực qua nhiều thiên niên kỷ. Ông đặt tên cho những người thầy của mình là “những nhà thiên văn người Babylon xứ Erech, Borsippa và Babylon”. Geminus ở đảo Rhodes coi “người Chaldea” (người Babylon cổ đại) là những người đã khám phá ra chuyển động chính xác của Mặt trăng. Sử gia Diodorus Siculus ở thế kỷ thứ I TCN đã xác nhận tính chính xác của thiên văn học Mesopotamia; ông khẳng định rằng “người Chaldea đã đặt tên cho các hành tinh ở trung tâm hệ thiên văn của họ là Mặt trời, ngôi sao sáng nhất, còn các hành tinh khác là “con cái” phản ánh vị trí và mức độ chiếu sáng của Mặt trời”.

Như vậy, Chaldea được thừa nhận là nguồn gốc của tri thức thiên văn Hy Lạp; những người Chaldea cổ đại luôn có vốn hiểu biết phong phú và chính xác hơn các dân tộc sau họ. Qua nhiều thế hệ, cái tên “người Chaldea” đã gắn liền với biểu tượng của nhà chiêm tinh, nhà thiên văn trên khắp thế giới cổ đại.

Abraham, người đến từ “thành Ur của người Chaldea” đã được Thiên Chúa yêu cầu quan sát các vì sao khi bàn về các thế hệ tương lai của người Hebrew. Thực tế, Kinh Cựu ước chứa đựng đầy rẫy những thông tin thiên văn. Joseph so sánh bản thân và anh trai mình với 12 thiên thể và tộc trưởng Jacob ban phước cho 12 đứa con của mình bằng cách gắn chúng với 12 chòm sao hoàng đạo. Phần Thánh ca trong cuốn Sách Job liên tục nhắc tới các hiện tượng thiên văn, các chòm sao hoàng đạo và các chòm sao khác (chẳng hạn như chòm sao Thất tinh). Những tri thức về hoàng đạo, sự phân chia bầu trời một cách khoa học và những thông tin thiên văn khác đã được phổ biến ở vùng Cận Đông cổ đại trước cả thời Hy Lạp cổ đại.

Tri thức thiên văn của người Mesopotamia vốn là cội nguồn tri thức của các nhà thiên văn Hy Lạp cổ đại và có quy mô vô cùng đồ sộ, bởi chỉ riêng những gì mà các nhà khảo cổ tìm thấy cũng đã trở thành một kho tàng những ghi chép, bản khắc, con dấu, phù điêu đắp nổi, hình vẽ, danh sách các thiên thể, các điềm báo, lịch, bảng thống kê thời gian mọc và lặn của Mặt trời cùng các hành tinh khác cũng như các dự báo thiên thực.

Chúng ta cũng phải thừa nhận rằng nhiều ghi chép trong số đó về bản chất mang tính chiêm tinh học nhiều hơn là thiên văn học. Bầu trời và chuyển động của các thiên thể dường như là mối bận tâm hàng đầu của các vị vua hùng mạnh, các giáo sỹ đền thờ và của người dân xứ sở này nói chung; dường như mục đích của việc chiêm tinh là tìm kiếm trên bầu trời câu trả lời cho nguyên nhân các sự việc diễn ra trên Trái đất như chiến tranh, hòa bình, sự sung túc hay nạn đói.

Sau khi biên soạn và phân tích hàng trăm ghi chép có từ thiên niên kỷ thứ nhất TCN, R. C. Thompson (The Report of the Magicians and Astrologers of Nineveh and Babylon – tạm dịch: Báo cáo của các pháp sư và nhà chiêm tinh Nineveh và Babylon) đã có thể chỉ ra rằng các nhà chiêm tinh này rất quan tâm đến vận mệnh của xứ sở, của người dân và của nhà vua dưới góc độ quốc gia chứ không phải là vận mệnh của từng cá nhân (không giống như thuật chiêm tinh “đoán số tử vi” ngày nay):

Nếu Mặt trăng không mọc trong thời gian đã định,

sẽ có một cuộc xâm lăng do một thành lớn gây ra.

Nếu một sao chổi đi qua đường đi của Mặt trời,

cái đuôi sẽ bị thu nhỏ lại, cuộc nổi loạn sẽ diễn ra 2 lần.

Nếu sao Mộc đi cùng với sao Kim,

các giáo sỹ của xứ sở sẽ thấu tận trái tim các vị thần.

Nếu Mặt trời đi vào vị trí của Mặt trăng,

đức vua của xứ sở sẽ gìn giữ được ngai vàng.

Ngay cả thuật chiêm tinh này cũng đòi hỏi những kiến thức toàn diện và chính xác về thiên văn, bởi nếu không có chúng thì chẳng ai có cơ sở để đưa ra bất kỳ điềm báo nào. Người Mesopotamia với vốn kiến thức đó đã phân biệt được những vì sao “cố định” với những hành tinh “lang thang” và biết rằng Mặt trời với Mặt trăng không phải là những ngôi sao cố định cũng không phải là những hành tinh bình thường. Họ cũng quen thuộc với sao chổi, sao băng và các hiện tượng thiên văn khác, họ cũng tính toán được các mối liên hệ giữa Mặt trời, Mặt trăng, Trái đất và dự đoán được thiên thực. Họ theo dõi chuyển động của các thiên thể và liên hệ chúng với quỹ đạo và sự quay của Trái đất trong Hệ Mặt trời – hệ thiên văn, đặc biệt họ còn tính được thời điểm mọc và lặn của các ngôi sao và hành tinh trên bầu trời trong mối tương quan với Mặt trời và cách tính này vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay.

Để theo dõi được chuyển động của các thiên thể và vị trí của chúng trên bầu trời trong mối tương quan với Trái đất và với nhau, người Babylon và người Assyria có những loại lịch thiên văn chính xác. Chúng là những tấm đất sét liệt kê và dự đoán vị trí tương lai của các thiên thể. Giáo sư George Sarton (Chaldean Astronomy of the Last Three Centuries B.C – tạm dịch: Thiên văn học của người Chaldea trong 3 thế kỷ cuối TCN) phát hiện ra rằng những tấm lịch này được tính toán theo 2 phương pháp: phương pháp mới hơn được sử dụng ở Babylon và phương pháp cũ hơn được sử dụng ở Uruk. Điều khác thường trong khám phá của ông là phương pháp cũ hơn của người Uruk lại phức tạp và chính xác hơn phương pháp sau này. Ông giải thích cho hiện tượng đáng ngạc nhiên này bằng cách kết luận rằng những khái niệm thiên văn sai lầm của người Hy Lạp và La Mã bắt nguồn từ việc chuyển sang một trường phái triết học giải thích thế giới bằng các thuật ngữ hình học, trong khi các giáo sỹ – nhà thiên văn người Chaldea lại tuân theo những công thức và truyền thống sẵn có của người Sumer.

Quá trình khai quật nền văn minh Mesopotamia trong vòng 100 năm qua đã khẳng định rằng những tri thức của chúng ta trong lĩnh vực thiên văn và nhiều lĩnh vực khác có cội rễ sâu xa từ Mesopotamia. Trong lĩnh vực thiên văn này chúng ta cũng kế thừa và tiếp nối di sản của người Sumer.

Các kết luận của Sarton càng được củng cố bằng những nghiên cứu toàn diện của Giáo sư O. Neugebauer (Astronomical Cuneiform Texts – Các ghi chép thiên văn bằng chữ hình nêm), người đã vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng chính những tấm lịch thiên văn đó lại không dựa trên quan sát của các nhà thiên văn Babylon, những người đã soạn ra chúng. Thực tế, chúng được tính toán “từ một vài hệ thống số học cố định… được trao lại” và các nhà thiên văn sử dụng chúng mà “không chỉnh sửa”.

Sự tôn trọng triệt để mang tính tự giác đối với “các hệ thống số học” được hình thành với sự trợ giúp của “các ghi chép số học” đi kèm với các lịch thiên văn, “đưa ra các quy tắc tính toán lịch thiên văn theo từng bước”, tuân thủ một số “lý thuyết toán học nghiêm ngặt” nào đó. Neugebauer kết luận rằng các nhà thiên văn Babylon không hề biết đến các lý thuyết làm cơ sở cho lịch thiên văn và các phép tính toán học của mình. Ông cũng thừa nhận rằng “cơ sở thực nghiệm và lý thuyết” ở tầm vĩ mô của các tấm lịch chính xác đó cũng nằm ngoài khả năng của các học giả đương đại. Tuy vậy ông vẫn tin chắc rằng các lý thuyết thiên văn học cổ xưa “chắc hẳn phải tồn tại, bởi người ta không thể nghĩ ra các hệ thống tính toán có độ phức tạp cao mà không có một kế hoạch công phu”.

Những lý thuyết phức tạp này đã được xây dựng từ đâu và ai là người tiến hành những quan sát không thể thiếu để xây dựng nên các lý thuyết đó? Neugebauer chỉ ra rằng “trong các ghi chép về thủ tục, chúng ta bắt gặp rất nhiều thuật ngữ kỹ thuật không thể đọc được, nếu không muốn nói là không thể hiểu được”. Có ai đó trước thời của người Babylon rất lâu đã nắm trong tay những tri thức thiên văn và toán học vượt trội hơn nhiều so với các nền văn hóa Babylon, Assyria, Ai Cập, Hy Lạp và La Mã sau này.

Người Babylon và người Assyria đã đóng góp một phần quan trọng những nỗ lực thiên văn của mình trong việc gìn giữ một loại lịch chính xác. Giống như lịch Do Thái vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay, đó là loại lịch âm – dương có sự kết hợp (“xen lẫn”) giữa năm dương lịch khoảng hơn 365 ngày với một tháng âm lịch dưới 30 ngày. Tuy lịch rất quan trọng đối với công việc kinh doanh và các nhu cầu trần tục khác nhưng người ta cần đến sự chính xác của nó chủ yếu là để quyết định ngày và khoảnh khắc chính xác của Năm Mới, cũng như các lễ hội và nghi lễ thờ cúng các vị thần khác.

Nhưng người Babylon và người Assyria không phải là người phát minh ra loại lịch này hay những phương pháp tài tình để tính toán ra loại lịch đó. Những cuốn lịch chính xác như lịch của chúng ta ngày nay có nguồn gốc từ Sumer. Các chuyên gia đã tìm thấy ở đó một cuốn lịch đã được sử dụng từ thời rất xa xưa đóng vai trò là cơ sở cho tất cả các loại lịch sau này. Loại lịch chủ yếu và chuẩn xác chính là lịch của Nippur, nơi ngự trị của Enlil. Lịch ngày nay của chúng ta cũng bắt chước theo loại lịch Nippur đó.

Người Sumer cho rằng Năm Mới bắt đầu vào thời điểm chính xác khi Mặt trời đi qua điểm xuân phân. Giáo sư Stephen Langdon (Tablets from the Archives of Drehem – Những tấm đất sét trong kho lưu trữ của Drehem) phát hiện ra rằng những hồ sơ mà Dungi, một vị vua của Ur vào khoảng năm 2400 TCN để lại cho thấy lịch Nippur lựa chọn một thiên thể nhất định đối xứng với mặt trời lặn để quyết định thời điểm chính xác bước sang Năm Mới. Ông cho rằng việc này đã được thực hiện “có lẽ 2.000 năm trước thời của Dungi”, nghĩa là vào khoảng năm 4400 TCN!

Có thật là người Sumer tuy không có những dụng cụ thực sự trong tay nhưng vẫn có được những tri thức toán học và thiên văn phức tạp cần thiết cho thiên văn học và hình học hình cầu? Trong thực tế điều đó là sự thật, như đã được chỉ ra trong ngôn ngữ của họ.

Họ có một thuật ngữ DUB có nghĩa là (trong lĩnh vực thiên văn học) “đường tròn thế giới” 360 độ được sử dụng để nói về độ cong hay hình cung của bầu trời. Với những tính toán thiên văn và toán học của mình, họ đã vẽ ra chúng tôi – một “đường chân trời bầu trời” tưởng tượng để dựa vào đó tính toán thời gian mọc và lặn của các thiên thể. Từ đường chân trời này họ vẽ một đường thẳng vuông góc được gọi là chúng tôi với đường này họ biết được thiên điểm và gọi nó là chúng tôi Họ vạch ra những đường mà chúng ta gọi là kinh tuyến và đặt tên cho chúng là “đường nối chia độ”; đường vĩ tuyến thì được gọi là “trung tuyến bầu trời”. Chẳng hạn như đường vĩ tuyến đánh dấu điểm hạ chí được gọi là chúng tôi (“điểm nóng của bầu trời”).

Các kiệt tác văn học của người Akkad, Hurrian, Hittite và các dân tộc khác của vùng Cận Đông cổ đại dù là bản dịch hay bản gốc bằng tiếng Sumer đều chứa đựng rất nhiều những từ vay mượn tiếng Sumer chỉ các thiên thể và hiện tượng thiên văn. Các học giả Babylon và Assyria lập nên danh sách các vì sao và viết ra các công thức tính toán chuyển động của hành tinh thường ghi chú nguồn tư liệu Sumer trên những tấm đất sét mà họ đang sao chép hoặc dịch. 25.000 bản ghi chép về lĩnh vực thiên văn học và chiêm tinh học được cho là nằm trong thư viện Nineveh của Ashurbanipal thường có những đoạn thừa nhận nguồn gốc tư liệu Sumer.

Một loạt tác phẩm thiên văn lớn mà người Babylon gọi là “Ngày của Chúa tể” đã được những người ghi chép công bố bằng cách chép lại từ một tấm đất sét bằng chữ Sumer có từ thời vua Sargon xứ Akkad vào thiên niên kỷ 3 TCN. Một tấm đất sét có từ triều đại thứ ba của Ur, cũng vào thiên niên kỷ 3 TCN, mô tả và liệt kê một loạt các thiên thể rành mạch đến mức các chuyên gia đương đại không mấy khó khăn trong việc nhận ra rằng ghi chép này là một bảng phân loại các chòm sao, trong đó có Ursa Major (Đại Hùng), Draco (Thiên Long), Lyra (Thiên Cầm), Cygnus (Thiên Nga) và Triangulum (Tam Giác) ở bầu trời phía bắc; Orion (Lạp Hộ), Canis Major (Đại Khuyển), Hydra (Trường Xà), Corvus (Ô Nha) và Centaurus (Bán Nhân Mã) ở bầu trời phía nam; và các chòm sao hoàng đạo quen thuộc ở bầu trời trung tâm.

Ở Mesopotamia cổ đại, những bí mật về tri thức thiên văn được các giáo sỹ − nhà thiên văn bảo vệ, nghiên cứu và truyền thụ. Bởi vậy cũng là lẽ thường khi ba học giả có công lao mang lại cho chúng ta nền khoa học thất truyền “Chaldea” là những giáo sỹ dòng Tên: Joseph Epping, Johann Strasman và Franz X. Kugler. Trong kiệt tác Sternkunde und Sterndienst in Babel (tạm dịch: Thiên văn học và các chòm sao ở Babylon) của mình, Kugler đã phân tích, giải mã, sắp xếp và giải thích rất nhiều bản ghi chép và danh sách. Trong một trường hợp, bằng cách “đảo ngược bầu trời” dưới phương diện toán học, ông đã có thể chỉ ra rằng một danh sách 33 thiên thể trên bầu trời của người Babylon được sắp xếp một cách chặt chẽ vào năm 1800 TCN như cách sắp xếp ngày nay của chúng ta!

Sau nhiều nỗ lực quyết định xem đâu là chòm sao thực sự và đâu chỉ là phân nhóm, thì vào năm 1925 cộng đồng thiên văn thế giới đã nhất trí phân chia bầu trời nhìn từ Trái đất thành 3 phần – phía bắc, trung tâm và phía nam – và từ đó nhóm các ngôi sao lại thành 88 chòm sao. Hóa ra việc phân nhóm này chẳng có gì mới mẻ, vì người Sumer là những người đầu tiên phân chia bầu trời thành 3 dải hay “đạo” – “đạo” phía bắc được đặt theo tên của Enlil, đạo phía nam theo tên của Ea và đạo trung tâm là “Đạo Anu” – và mỗi đạo có các chòm sao khác nhau. Dải bầu trời trung tâm ngày nay có chứa 12 chòm sao hoàng đạo chính xác như Dải Anu, trong dải này người Sumer đã nhóm các ngôi sao thành 12 nhà.

Giống như ngày nay, người cổ đại cũng liên tưởng hiện tượng này với khái niệm về hoàng đạo. Vòng quay lớn của Trái đất xung quanh Mặt trời được chia thành 12 phần đều nhau, mỗi phần là 30 độ. Những ngôi sao xuất hiện trong mỗi phần hay mỗi “nhà” này được nhóm lại với nhau thành một chòm sao, các chòm sao đó đều được đặt tên theo hình dạng tưởng tượng mà các ngôi sao trong nhóm tạo thành.

Vì tên gọi và mô tả của các chòm sao cùng các phân nhóm và thậm chí là từng ngôi sao trong các chòm sao đều xuất hiện trong nền văn minh phương Tây với việc bị ảnh hưởng sâu sắc từ thần thoại Hy Lạp nên trong gần hai thiên niên kỷ phương Tây có xu hướng coi Hy Lạp là cái nôi của thành tựu này. Nhưng giờ đây chúng ta đã biết rõ rằng các nhà thiên văn Hy Lạp cổ đại chỉ đơn thuần đưa nền thiên văn học sẵn có từ người Sumer vào ngôn ngữ và thần thoại của mình. Chúng tôi cũng đã nói về cách Hipparchus, Eudoxus và những người khác đạt được tri thức của mình. Ngay cả Thale, nhà thiên văn nổi tiếng đầu tiên của Hy Lạp, người được cho là đã đoán trước được hiện tượng nhật thực toàn phần diễn ra vào ngày 28 tháng Năm năm 585 TCN, góp phần chấm dứt được cuộc chiến giữa người Lydia và Media, cũng thừa nhận rằng nguồn tri thức của mình có cội rễ từ Mesopotamia thời kỳ tiền Semite, hay còn gọi là Sumer.

Từ “zodiac” (hoàng đạo) của chúng ta có nguồn gốc từ từ zodiakos kyklos (“hình động vật”) trong tiếng Hy Lạp bởi vì tạo hình của các nhóm sao này giống như hình dạng của sư tử, cá… Nhưng hình dạng tưởng tượng và tên gọi đó thực sự là sản phẩm của người Sumer, những người đã gọi 12 chòm sao hoàng đạo là chúng tôi (“đàn động vật sáng ngời”):

chúng tôi (“bò trời”), Taurus (Kim Ngưu).

chúng tôi (“song sinh”), Gemini (Song Tử).

DUB (“càng cua”, “cái kẹp”), Crab hay Cancer (Cự Giải).

chúng tôi (“sư tử”), chúng ta gọi là Leo (Sư tử).

chúng tôi (“cha nàng là Sin”), Maiden, Virgo (Xử Nữ).

chúng tôi (“thiên mệnh”), Libra (Thiên Bình).

chúng tôi (“cái cắt và xé”), Scorpio (Bọ Cạp).

chúng tôi (“người bảo vệ”), Archer, Sagittarius (Nhân Mã).

chúng tôi (“dê-cá”), Capricorn (Ma Kết).

GU (“chúa tể các vùng nước”), Water Bearer (Bảo Bình), Aquarius (Tức Đồng)

chúng tôi (“cá”), Pisces (Song Ngư).

chúng tôi (“ở trên đồng ruộng”), Ram, Aries (Bạch Dương).

Giống như tên gọi, tượng hình hay ký hiệu của các cung hoàng đạo cũng gần như được giữ nguyên kể từ khi ra đời ở Sumer. (Hình 93)

Trước khi phát minh ra kính viễn vọng, các nhà thiên văn châu Âu chỉ chấp nhận 19 chòm sao hoàng đạo do triều đại Plolemy ghi nhận ở bầu trời phía bắc. Đến năm 1925, sau khi thống nhất được cách sắp xếp, người ta ghi nhận 28 chòm sao trong phần mà người Sumer gọi là Đạo Enlil. Chúng ta cũng không ngạc nhiên khi biết rằng trái với người Ptolemy, người Sumer cổ đại đã ghi nhận, xác định, phân nhóm, đặt tên và liệt kê tất cả các chòm sao ở bầu trời phía bắc!

Trong số các thiên thể thuộc Đạo Enlil, 12 thiên thể được cho là của Enlil – tương ứng với 12 thiên thể hoàng đạo trong Đạo Anu. Tương tự, trong Đạo Ea ở phía bắc của bầu trời có 12 chòm sao được liệt kê, không chỉ đơn thuần là hiện diện ở bầu trời phía bắc mà chúng là của thần Ea. Bên cạnh 12 chòm sao chính của Ea này, một số chòm sao khác cũng được liệt kê thuộc bầu trời phía bắc, tuy nhiên ngày nay số chòm sao được công nhận không nhiều đến vậy.

Đạo Ea đã làm nảy sinh những vấn đề lớn đối với các nhà Assyria học, những người tiến hành nhiệm vụ làm sáng tỏ tri thức thiên văn cổ đại không chỉ dưới góc nhìn của tri thức đương đại mà còn dựa trên những gì người ta quan sát được trên bầu trời hàng thế kỷ và thiên niên kỷ trước. Khi quan sát bầu trời phía nam từ Ur hay Babylon, các nhà thiên văn Mesopotamia chỉ có thể nhìn thấy quá nửa bầu trời này một phần; phần còn lại nằm khuất dưới đường chân trời. Thế nhưng một số chòm sao trong Đạo Ea nếu được xác định chính xác thì lại nằm ở phần khuất dưới đường chân trời này. Điều này làm nảy sinh một vấn đề lớn hơn: Nếu theo giả thiết của các chuyên gia rằng người Mesopotamia (như người Hy Lạp sau này) coi Trái đất là một vùng đất rộng lớn khô ráo nằm trên mặt nước tối tăm hỗn loạn (theo người Hy Lạp là Địa ngục) – một chiếc đĩa phẳng với bầu trời là một vòm bán nguyệt ở trên – thì sẽ không bao giờ tồn tại phần bầu trời phía nam!

Bị bó buộc trong quan niệm cho rằng người Mesopotamia tuân theo khái niệm Trái đất phẳng, các học giả đương đại không thể chấp nhận những kết luận đề cập quá nhiều đến phần phía dưới đường xích đạo phân biệt phía bắc và phía nam của họ. Tuy nhiên các bằng chứng lại cho thấy rằng 3 “đạo” của người Sumer bao trùm toàn bộ bầu trời của một Trái đất hình cầu chứ không phải đĩa dẹt.

Năm 1900, T. G. Pinches báo cáo trước Hội châu Á học Hoàng gia rằng ông có thể sắp xếp và tái tạo một chiếc thước trắc tinh (“thước đo sao”) hoàn chỉnh của người Mesopotamia. Ông chỉ ra rằng đó là một chiếc đĩa tròn, được chia thành 12 phần và 3 vòng đồng tâm như một chiếc bánh, tạo nên 36 cung tất cả. Toàn bộ cấu trúc này trông giống như một đóa hoa hồng có 12 “cánh”, mỗi cánh là tên một tháng. Pinches đã đánh dấu chúng từ I đến XII bắt đầu bằng Nisannu, tháng đầu tiên trong lịch của người Mesopotamia. (Hình 94)

Mỗi cung trong 36 cung này đều chứa một tên gọi với một hình tròn nhỏ ở phía dưới thể hiện tên của một thiên thể. Những cái tên này được tìm thấy trong rất nhiều ghi chép và “danh sách các sao trên bầu trời” và hiển nhiên chúng là tên của các chòm sao, ngôi sao hay hành tinh.

Tất cả 36 cung này cũng có một con số được viết phía dưới tên các thiên thể. Trong vòng tròn nhỏ nhất là dãy số từ 30 đến 60; vòng tròn chính giữa là các số từ 60 (được viết là “1”) tới 120 (“2” ở đây có nghĩa là 2 x 60 = 120 trong hệ lục thập phân); và vòng tròn ngoài cùng là các số từ 120 đến 240. Những con số này đại diện cho cái gì?

Chúng tôi tin rằng vấn đề này chỉ có thể giải quyết được nếu loại trừ quan niệm cho rằng người Mesopotamia tin Trái đất phẳng và thừa nhận tri thức thiên văn của họ cũng phát triển như của chúng ta – không phải bởi vì họ có những dụng cụ tối tân hơn, mà là vì họ có được nguồn thông tin hỗ trợ từ người Nefilim.

Chúng tôi cho rằng những con số bí ẩn kia thể hiện độ cung bầu trời, với Cực Bắc là điểm bắt đầu và chiếc thước trắc tinh này là một bản đồ sao quay mô phỏng một quả cầu trên một mặt phẳng.

Tuy các con số đều có tăng và giảm nhưng những con số ở phần đối diện của Đạo Enlil (chẳng hạn như Nisannu – 50, Tashritu – 40) chỉ lên đến 90; các con số ở Đạo Anu lên đến 180; và tất cả các số ở Đạo Ea lên đến 360 (chẳng hạn như Nisannu 200, Tashritu 160). Những con số này quá quen thuộc nên dễ gây hiểu lầm; chúng tượng trưng cho các cung của một đường tròn hình cầu hoàn chỉnh: 1/4 đường tròn (90 độ), 1/2 đường tròn (180 độ) và cả đường tròn (360 độ).

*

Các con số trong cung của Đạo Ea tăng lên đến 180° tại Addaru (tháng Hai − tháng Ba) và Ululu (tháng Tám − tháng Chín). Điểm duy nhất nằm cách Cực Bắc 180° bất kể bạn đi về phía nam theo hướng đông hay tây chính là Cực Nam. Và điều này chỉ đúng khi được áp dụng với một quả cầu.

Tuế sai là hiện tượng do sự nghiêng của trục bắc − nam Trái đất gây ra, khiến cho cực Bắc (điểm chỉ thẳng lên sao cực Bắc) và cực Nam vạch thành một vòng tròn lớn trên bầu trời. Chuyển động chậm dần rõ rệt của Trái đất so với các chòm sao lên tới khoảng 50 giây của một cung trong một năm, hay 1° trong 72 năm. Như vậy vòng tròn lớn – thời gian để cực Bắc chỉ thẳng trở lại cùng sao cực Nam – kéo dài khoảng 25.920 năm (72 x 360) và đó chính là hiện tượng mà các nhà thiên văn gọi là Great Year hay Platonian Year (có lẽ là vì Plato cũng đã biết đến hiện tượng này)

Hình 95

A. Đạo Anu, phần trời của Mặt trời, các hành tinh và các chòm sao hoàng đạo

B. Đạo Enlil, phần trời phía bắc

C. Đạo Ea, phần trời phía nam Thời cổ đại việc các ngôi sao khác nhau mọc – lặn rất được coi trọng và việc quyết định chính xác thời điểm xuân phân (mở đầu cho Năm Mới) phụ thuộc vào cung hoàng đạo nơi điểm xuân phân diễn ra. Do hiện tượng tuế sai, điểm xuân phân và các hiện tượng thiên văn khác thay đổi chậm chạp từ năm này qua năm khác và cuối cùng chuyển sang cung hoàng đạo khác sau 2.160 năm quay vòng một cung hoàng đạo hoàn chỉnh. Các nhà thiên văn của chúng ta vẫn đang sử dụng một “zero point” (“điểm đầu tiên của cung Aries – Bạch Dương) vốn đánh dấu điểm xuân phân vào khoảng năm 900 TCN, nhưng hiện nay điểm này đã chuyển sang cung Pisces (Song Ngư). Vào khoảng năm 2100 SCN điểm xuân phân sẽ bắt đầu diễn ra trong cung Aquarius kế tiếp (hay cung Tức Đồng). Đây chính là điều lý giải tại sao người ta cho rằng chúng ta chuẩn bị bước sang thời đại Tức Đồng. (Hình 96)

Vì quá trình dịch chuyển từ cung hoàng đạo này sang cung hoàng đạo khác mất tới hơn hai thiên niên kỷ nên các chuyên gia tự hỏi làm thế nào và từ đâu mà Hipparchus có thể biết được hiện tượng tuế sai vào thế kỷ thứ hai TCN. Nhưng giờ đây chúng ta đã biết được ngọn nguồn tri thức của Hipparchus chính là nền văn minh Sumer. Những phát hiện của giáo sư Langdon cho thấy lịch Nippur được tạo ra vào khoảng năm 4400 TCN ở Thời đại Kim Ngưu phản ánh tri thức về hiện tượng tuế sai và sự dịch chuyển giữa các cung hoàng đạo diễn ra 2160 năm trước. Giáo sư Jeremias, người đã tiến hành đối chiếu các ghi chép thiên văn của người Mesopotamia với các ghi chép thiên văn của người Hittite, cho rằng những tư liệu thiên văn cổ xưa hơn ghi chép lại quá trình dịch chuyển từ cung Kim Ngưu sang cung Bạch Dương cũng tồn tại; và các nhà thiên văn Mesopotamia đã dự đoán và biết trước được sự dịch chuyển ngược lại từ cung Bạch Dương sang cung Song Ngư.

Hầu hết các chuyên gia đều tin rằng việc người Sumer coi Kim Ngưu là chòm sao đầu tiên của họ không chỉ chứng tỏ mức độ cổ xưa của cung hoàng đạo này – vào khoảng năm 4000 TCN – mà còn xác thực cho thời điểm khởi đầu một cách đột ngột của nền văn minh Sumer. Giáo sư Jeremias (The Old Testament in the Light of the Ancient East – tạm dịch: Kinh Cựu ước dưới ánh sáng của nền văn minh phương Đông cổ đại) đã tìm thấy bằng chứng chứng tỏ rằng điểm “point zero” theo thứ tự thời gian – cung hoàng đạo của người Sumer nằm ngay giữa cung Kim Ngưu và Song Tử; từ cơ sở này cùng nhiều dữ liệu khác ông đưa ra kết luận cung hoàng đạo này được đặt ra vào Thời đại Song Tử – có nghĩa là còn trước cả khi nền văn minh Sumer bắt đầu. Một tấm đất sét của người Sumer tại Bảo tàng Berlin (mã hiệu VAT.7847) bắt đầu danh sách các chòm sao hoàng đạo bằng chòm sao Sư Tử – đưa ta trở về khoảng năm 11000 TCN, khi Con người mới chỉ bắt đầu thời kỳ khai hoang vỡ đất.

Đây quả là hiểu biết thiên văn đáng kinh ngạc diễn ra ở một thời kỳ mà chúng ta không hề ngờ tới.

Rõ ràng, đó là bằng chứng cho thấy các nhà thiên văn Sumer đã sở hữu những tri thức mà họ không thể nào tự mình có được, thậm chí không hề có giá trị thực tiễn đối với họ.

Một trong những ghi chép đó có mã hiệu AO.6478 liệt kê 26 ngôi sao lớn có thể nhìn thấy dọc theo đường Chí tuyến bắc và đưa ra khoảng cách giữa chúng được tính bằng ba phương pháp khác nhau. Đầu tiên, ghi chép này đưa ra khoảng cách giữa các ngôi sao được tính bằng một thiết bị gọi là mana shukultu (“đo và cân”). Người ta tin rằng đây là một thiết bị tinh xảo tính toán tương quan giữa trọng lượng khối nước chảy với thời gian. Nó giúp ta có thể đo được khoảng cách giữa 2 ngôi sao theo thời gian.

*

Việc có đến 3 phương pháp đo khoảng cách giữa các vì sao khác nhau thể hiện tầm quan trọng của vấn đề này. Nhưng ai trong số những người dân Sumer cần đến những tri thức này – và ai trong số họ có thể nghĩ ra những phương pháp đó và sử dụng chúng một cách chính xác? Câu trả lời khả dĩ duy nhất đó là người Nefilim có những tri thức và nhu cầu sử dụng các phương pháp đo đạc chính xác đó.

Với khả năng du hành trong vũ trụ, đến Trái đất từ hành tinh khác, bay lượn trên bầu trời Trái đất, họ là những người duy nhất vào buổi bình minh của văn minh Loài người có khả năng và đã thực sự nắm giữ những tri thức thiên văn phải mất hàng thiên niên kỷ mới xây dựng nên bao gồm những phương pháp, phép toán và khái niệm phức tạp của một nền thiên văn học tiên tiến và nhu cầu hướng dẫn những người ghi chép của Loài người sao chép và ghi lại một cách tỉ mỉ trên các tấm đất sét khoảng cách giữa các bầu trời, trật tự và phân nhóm của các ngôi sao, thời gian mọc và lặn của mặt trời, lịch Mặt trời-Mặt trăng-Trái đất phức tạp và phần còn lại của lượng tri thức khổng lồ cả về Bầu trời và Mặt đất.

Trái với bối cảnh này, liệu chúng ta có còn cho rằng các nhà thiên văn Mesopotamia dưới sự hướng dẫn của người Nefilim vẫn không hề biết đến những hành tinh bên ngoài sao Thổ – rằng họ không hề biết tới sao Thiên Vương, sao Hải Vương và sao Diêm Vương? Phải chăng tri thức của họ về Hệ Mặt trời, đại gia đình Trái đất lại kém phong phú hơn tri thức về những vì sao xa xôi, về trật tự và khoảng cách của chúng?

Với nỗ lực nhằm khai thác kho tàng ghi chép đồ sộ này và đặc biệt là xác định chính xác các hành tinh trong Hệ Mặt trời của chúng ta, một nhóm các chuyên gia đi sâu vào nghiên cứu và thu được những kết quả gây tranh cãi. Họ đã thất bại bởi quan niệm sai lầm rằng người Sumer và hậu duệ của họ không nhận thức được Hệ Mặt trời là hệ nhật tâm, rằng Trái đất chỉ là một trong số các hành tinh trong đó và rằng ngoài sao Thổ vẫn còn nhiều hành tinh nữa.

Các chuyên gia đã có những kết luận trái ngược nhau sau khi bỏ qua khả năng một số tên gọi trong danh sách các ngôi sao này là những cái tên khác của Trái đất và tiến hành tìm kiếm rất nhiều cái tên và biệt hiệu khác nhau chỉ để đặt cho vỏn vẹn năm ngôi sao mà họ tin người Sumer biết đến. Một số chuyên gia thậm chí còn cho rằng sự rối rắm này không phải do mình gây ra mà là mớ lộn xộn của người Chaldea – vì họ nói rằng do một vài lý do bí ẩn nào đó, người Chaldea đã thay đổi tên gọi của năm hành tinh “đã biết”.

Người Sumer gọi tất cả các thiên thể (hành tinh, ngôi sao hay chòm sao) là MUL (“người chiếu sáng trên cao”). Tương tự người Babylon và Assyria cũng sử dụng từ kakkab của người Akkad làm thuật ngữ chung để chỉ bất cứ thiên thể nào. Cách sử dụng từ này đã làm đau đầu các chuyên gia tìm cách khám phá các ghi chép thiên văn cổ đại. Nhưng một số mul được gọi là chúng tôi dùng để chỉ các hành tinh trong Hệ Mặt trời một cách rõ ràng.

Biết rằng người Hy Lạp gọi các hành tinh là “kẻ lang thang”, các chuyên gia đã đọc từ chúng tôi thành “con cừu lang thang”, bắt nguồn từ từ LU (“con cừu được chăn”) và BAD (“cao và xa”). Nhưng như chúng tôi đã chỉ ra, vì người Sumer nhận thức đầy đủ về bản chất thực sự của Hệ Mặt trời nên nghĩa khác của từ bad (“người già”, “người thành lập”, “người ở gần cái chết”) mang ý nghĩa trực tiếp hơn.

Đó là những tên gọi dành riêng cho Mặt trời, vì vậy từ lubad của người Sumer không chỉ có nghĩa đơn thuần là “những con cừu lang thang” mà phải được hiểu là “những con cừu – những hành tinh của Mặt trời – đang được Mặt trời chăn dắt.”

Vị trí và mối quan hệ giữa các lubad với nhau và với Mặt trời được mô tả trong nhiều ghi chép thiên văn của người Mesopotamia. Những ghi chép này đề cập đến các hành tinh “phía trên” cũng như “phía dưới” và Kugler đã suy đoán một cách chính xác rằng hành tinh đang được đề cập đến ở đây chính là Trái đất.

Franz Kugler (Sternkunde und Sterndienst in Babel – tạm dịch: Thiên văn và các chòm sao ở Babylon) đã miễn cưỡng chấp nhận câu trả lời Pleiades như một giải pháp, nhưng ông đã bày tỏ sự ngạc nhiên khi nhận thấy các ghi chép của người Mesopotamia khẳng định dứt khoát rằng mulmul không chỉ bao gồm “những kẻ lang thang” (các hành tinh) mà còn có cả Mặt trời và Mặt trăng – khiến cho giải pháp Pleiades không còn chắc chắn nữa. Ông còn đọc được những ghi chép ghi rõ rằng “mulmul ul-shu 12” (“mulmul là một nhóm 12”), trong đó có 10 thành viên tạo thành một nhóm riêng biệt.

Chúng tôi cho rằng thuật ngữ mulmul là để chỉ Hệ Mặt trời với cách lặp từ (MUL.MUL) để thể hiện nhóm này là một thể nhất quán, như “một thiên thể bao gồm tất cả các thiên thể”.

Charles Virolleaud (L’Astrologie Chaldéenne – tạm dịch: Tử vi của người Chaldea) đã tiến hành chuyển chữ một ghi chép của người Mesopotamia (K.3558) mô tả về các thành viên của nhóm mulmul hay kakkabu. Dòng cuối cùng của ghi chép này rất rõ ràng:

Kakkabu/kakkabu.

Số thiên thể của nó là 12.

Vị trí các thiên thể của nó là 12.

Toàn bộ số tháng của Mặt trăng là 12.

Những ghi chép này thể hiện quá rõ ràng: mulmul – Hệ Mặt trời của chúng ta – được tạo thành từ 12 thiên thể. Có lẽ đây không phải là điều đáng ngạc nhiên, vì học giả Hy Lạp, Diodorus, khi giải thích về 3 “đạo” của người Chaldea và danh sách 36 thiên thể của chúng đã nêu rõ rằng “trong số các vị thần trên trời này, có 12 vị nắm giữ quyền hành chính; người Chaldea gán mỗi vị thần đó với một tháng và một ký hiệu hoàng đạo”.

Ernst Weidner (Der Tierkreis und die Wege am Himmed – tạm dịch: Cung hoàng đạo và khoảng cách bầu trời) viết rằng ngoài Đạo Anu và 12 chòm sao hoàng đạo của nó, một số ghi chép còn đề cập tới “đạo Mặt trời” cũng gồm 12 thiên thể: Mặt trời, Mặt trăng và 10 thiên thể khác. Dòng 20 trong tấm bảng TE ghi rằng: “naphar 12 sheremesh chúng tôi sha chúng tôi sha Sin u Shamash ina libbi ittiquu” có nghĩa là “tóm lại, 12 thành viên trong nhóm có Mặt trời và Mặt trăng là nơi các hành tinh quay theo quỹ đạo”.

Giờ đây chúng ta đã nắm bắt được tầm quan trọng của con số 12 trong thế giới cổ đại. Số lượng các vị Chủ thần vĩ đại của người Sumer và sau đó là các vị thần Olympia đều gồm đúng 12 thành viên; các vị thần trẻ chỉ có thể tham gia vào nhóm này khi các vị thần già rút lui. Và đương nhiên, nếu thiếu một vị trí thì phải bổ sung để duy trì con số 12 vị thần. Vòng tròn bầu trời chính, đạo Mặt trời cùng với 12 thành viên tạo thành một hình mẫu mà theo đó mỗi phần bầu trời đều được chia thành 12 cung hoặc được phân bổ thành 12 thiên thể chính. Bởi vậy cho nên mới có 12 tháng một năm, 12 cặp giờ một ngày. Mỗi khu vực của đất nước Sumer đều được gán với 12 thiên thể như một hình thức cầu may mắn.

Trong một bản ghi chép dài được F. Thureau-Dangin (Ritueles Accadiens – tạm dịch: Các nghi lễ Acadia) xác định là một chương trình Lễ hội mừng Năm Mới của đền thờ ở Babylon đã đưa ra những dẫn chứng rất thuyết phục về việc cúng tế con số 12 như hiện tượng trung tâm của bầu trời. Ngôi đền lớn Esagila có 12 cửa. Quyền năng của tất cả các vị thần trên trời được trao cho Marduk bằng cách xướng lên 12 lần câu: “Hỡi Chúa tể, Ngài không phải là Chúa tể của ta sao”. Vị Chúa tể này và vợ của ngài đều ban ơn mỗi người 12 lần. Con số tổng 24 này khớp với 12 chòm sao hoàng đạo và 12 thành viên của Hệ Mặt trời.

Một cột mốc được vua xứ Susa cho khắc các biểu tượng thiên thể có sự xuất hiện của 24 ký hiệu: 12 ký hiệu quen thuộc cho hoàng đạo, cùng các ký tự biểu tượng cho 12 thành viên của Hệ Mặt trời. Đó là 12 vị thần sao của Mesopotamia, cũng như của Hurrian, Hittite, Hy Lạp và tất cả các vị thần cổ đại khác. (Hình 98)

Tuy rằng cơ sở hệ đếm tự nhiên của chúng ta là con số 10 nhưng số 12 vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong tất cả những vấn đề về thiên văn và thần linh trong một thời gian dài sau thời của người Sumer. Câu chuyện về 12 vị Titan của Hy Lạp, 12 Bộ tộc của Israel, 12 phần trên miếng giáp che ngực phép thuật của Đại Giáo sỹ Israel vẫn còn tồn tại. Quyền năng của con số 12 này lan tỏa tới 12 tông đồ của chúa Jesus và ngay cả trong hệ thập phân chúng ta cũng đếm từ 1 (one) tới 12 (twelve) và chỉ sau con số 12 chúng ta mới trở lại với “10 và 3” (thirteen), “10 và 4” (fourteen) v.v… (trong tiếng Anh)

Con số 12 đầy quyền năng và mang tính quyết định này có nguồn gốc từ đâu? Chúng ta chỉ có thể khẳng định chính là từ trên trời.

Trong Hệ Mặt trời – mulmul – ngoài tất cả những hành tinh mà chúng ta đã biết còn có thêm hành tinh Anu, hành tinh với biểu tượng là một thiên thể phát sáng vốn được dành để chỉ thần Anu và “thần linh” trong chữ viết của người Sumer. Một ghi chép thiên văn giải thích rằng “Kakkab của Quyền trượng Tối cao là một trong những con cừu trong mulmul.” Và khi Marduk soán đoạt ngôi vị tối cao và thay thế Anu trở thành vị thần gắn liền với hành tinh này, người Babylon đã nói rằng: “Hành tinh Marduk trong mulmul đã xuất hiện.”

Trong quá trình dạy cho Con người bản chất thực sự của Trái đất và bầu trời, người Nefilim đã cung cấp cho các giáo sỹ – nhà thiên văn cổ đại không chỉ những thông tin về các hành tinh bên ngoài sao Thổ mà còn về sự tồn tại của hành tinh quan trọng nhất, hành tinh mà từ đó họ đã đến với Trái đất: HÀNH TINH THỨ MƯỜI HAI.

Bi Mật Của Mười Hai Chòm Sao

Mỗi Con người Sinh ra đều là 1 phép màu ^^ nó mang một tính chất rất riêng vì mỗi người đều ko giống nhau và ở Châu Âu Người Ta tin khi sinh ra chúng ta gắng liền với 1 chòm sao và Mình lập topic này để chúng ta cùng bàn nhận về các vì sao trong dải ngân Hà ^^ Chòm sao Bạch Dương – Aries (21/3 – 20/4) Chòm sao Bạch Dương, tiếng Latinh Aries, biểu tượng là một trong mười hai chòm sao hoàng đạo, nằm phía tây cạnh chòm sao Song Ngư, phía bắc đối với chòm sao Kim Ngưu. Chòm sao này còn có tên Dương Cưu. Tên gọi Chòm sao này biểu tượng cho con cừu lông vàng trên bầu trời trong thần thoại Hy Lạp, đang cõng Frix và Hellé là hai người con của vua, bị mẹ ghẻ hất hủi. Cả người Babylon cổ, người Ai Cập cổ, người Persan cổ cũng nhìn thấy hình ảnh con cừu trong chòm sao này Chòm sao Kim Ngưu – Taurus (21/4 – 21/5) Chòm sao Kim Ngưu, tên Latinh Taurus, biểu tượng là một trong mười hai chòm sao hoàng đạo, nằm giữa chòm sao Bạch Dương kề phía tây và chòm sao Song Tử kề phía đông. Phía bắc kề với hai chòm sao Anh Tiên và Ngự Phu, phía tây nam giáp với chòm Lạp Hộ và phía đông nam giáp với Kình Ngư. Tên gọi Chòm sao Kim Ngưu là một chòm sao quan trọng trên bán thiên cầu bắc. Ngoài hai cụm sao mở lớn nhất có thể quan sát từ Trái Đất, chòm sao Kim Ngưu rất dễ nhận ra trên bầu trời nhờ nó nằm ngay bên chòm Lạp Hộ, tên Latinh Orion nổi bật trên bầu trời đêm. Người Chaldei đã tưởng tượng hình ảnh con trâu trong chòm sao này cách đây năm nghìn năm. Con trâu với biểu tượng cho sức mạnh và khả năng sinh sản của đàn ông, đã có mặt trong nhiều truyền thuyết. Nó được người Israel, người Hy Lạp thờ phụng. Theo truyền thuyết, Zeus hóa thân thành trâu, để kiếm cách đoạt được công chúa Europe. Khi Zeus lẩn vào đàn trâu của cha cô, công chúa Europe trèo lên lưng trâu và trang điểm sừng trâu bằng vòng hoa. Bất thình lình trâu dõng mình, lao xuống sóng nước cùng công chúa Europe bơi về Crete. Trong chòm sao chỉ có hình ảnh đầu trâu đang bơi, còn phần mình không nhìn thấy vì đang chìm trong sóng nước. Chòm sao Song Tử – Gemini (22/5 – 21/6) Song Tử, tiếng Latinh Gemini, biểu tượng là một trong mười hai chòm sao hoàng đạo, nằm giữa chòm sao Kim Ngưu ở phía tây và một chòm sao nhỏ là Cự Giải ở phía đông. Tên Gọi Theo thần thoại Hy Lạp chòm sao mang hình ảnh hai vị anh hùng, hai anh em cùng mẹ khác cha. Castor ứng với sao Castor và Polydeukes ứng với sao chúng tôi anh em song sinh Castor và Pollux là con của Zeus, chúa tể trong tất cả mười hai vị thần trên đỉnh Olympus, và nữ hoàng của thành Sparta. Đó là hai đứa trẻ trung hậu, rất dũng cảm và cùng nhau nổi danh khi lập được nhiều chiến công hiển hách trong cuộc hành trình của nhóm thủy thủ tàu Argo vĩ đại, và trong biết bao cuộc phiêu lưu khác. Bất kể khi nào, hai anh em luôn luôn tìm cách giúp đỡ lẫn nhau. Trong một trận đánh, Castor bị tử trận sau một vết thương rất đau đớn. Trong nỗi buồn vô hạn, Pollux đã cố gắng tự sát theo anh. Nhưng khác với Castor, Pollux được thừa hưởng dòng máu của Zeus vua cha, nên là một chiến binh bất tử. Khi không còn cách nào nữa, cậu bé thốt lên lời khóc “Hãy để con chết thay Castor, thưa cha!”. Zeus thương tiếc vô cùng, đã đồng ý cho họ thay phiên nhau mỗi người được sống một ngày và đưa họ cùng bay lên bầu trời. Hai anh em hóa thành chòm sao Gemini, mỗi một ngày một người sẽ được sống trên thiên đàng và là ngôi sao được tỏa sáng, ngôi sao còn lại không sáng vì người kia lúc ấy đang ở trần gian. Cũng kể từ đó chòm sao Song Sinh được coi là biểu tượng cho tình bạn, tình anh em.Đó chính là lý do người ta đặt tên Pollux và Castor là 2 ngôi sao sáng nhất trên của chòm sao này, tượng trưng cho 2 người anh hùng. Chòm sao Cự Giải – Cancer (22/6 – 22/7) Cự Giải (chữ Hán:巨蟹, nghĩa: con cua to lớn, tên Latinh Cancer) biểu tượng là một chòm sao nhỏ và không đặt sắc trong số các chòm sao hoàng đạo. Nó nằm cạnh chòm sao Song Tử về phía tây, kề với chòm sao Sư Tử ở phía đông, liền với chòm Thiên Miêu phía bắc, giáp với Tiểu Khuyển và Trường Xà ở phía nam. Tên Gọi Trong thần thoại Hy Lạp nữ thần Hera cho cua dữ đến giúp trường xà Hydra trong chiến trận với Heracles. Khi cua bị Heracles đạp chết, nữ thần Hera đưa lên bầu trời để đền ơn lòng dũng cảm của nó. Chòm sao Sư Tử – Leo (23/7 – 23/8) Sư Tử, tên Latinh Leo, biểu tượng là một chòm sao của hoàng đạo, là một trong 48 chòm sao Ptolemy và cũng là một trong 88 chòm sao hiện đại, mang hình ảnh Sư Tử. Tên Gọi Trong thần thoại Hy Lạp, nó được xác định như là Sư tử Nemea (và có thể là nguồn gốc của câu chuyện) đã bị Hercules giết chết trong một trong số Mười hai kỳ công của mình, và sau đó đưa lên bầu trời. Người Ai Cập thờ phụng sư tử vì Mặt Trời nằm ở chòm sao này vào thời gian diễn ra các trận lụt bồi đắp phù sa của sông Nil. Chòm sao Xử Nữ – Virgo (24/8 – 23/9) Thất Nữ, hay Xử Nữ hoặc Trinh Nữ (tiếng Latinh: Virgo ♍ để chỉ một trinh nữ), là chòm sao nằm trong hoàng đạo. Nằm giữa Sư Tử (Leo) về phía tây và Thiên Xứng (Thiên Bình hay Libra) về phía đông, nó là một trong những chòm sao lớn nhất của bầu trời. Nó có thể dễ dàng tìm thấy thông qua ngôi sao sáng nhất của nó là α Vir sao Giác (Spica). Tên Gọi Ngôi sao đáng chú ý nhất trong chòm sao Thất Nữ là sao Giác tức Spica (α Vir), nó đôi khi được coi như là bông lúa trong tay Thất Nữ. Sao Giác làm cho người ta dễ dàng xác định được chòm sao Thất Nữ, do nó có thể tìm thấy bằng cách nối đường cong của Gáo Lớn (Ursa Major) tới Arcturus trong chòm Mục Phu (Boötes) và tiếp tục theo đường cong này một khoảng tương tự sẽ tới sao Giác. Các sao sáng khác trong chòm sao Thất Nữ còn có Zavijah (β Vir), Porrima (γ Vir), Auva (δ Vir) và Vindemiatrix (ε Vir). Các sao mờ hơn đã được đặt tên có Heze (ζ Vir), Zaniah (η Vir), Syrma (ι Vir) và Rijl al Awwa (μ Vir). Ngôi sao 70 Virginis là một hệ thống hành tinh ngoài Hệ Mặt Trời với một hành tinh đã được xác nhận là có khối lượng bằng khoảng 6,6 lần khối lượng của Mộc Tinh. Chòm sao Thiên Bình – Libra (24/9 – 23/10) Thiên Xứng (chữ Hán 天秤), đôi lúc đọc là Thiên Bình, (♎, trong ngôn ngữ một số nước phương Tây và tiếng Latinh là Libra để chỉ cái cân đĩa) là một chòm sao trong hoàng đạo. Nó là một chòm sao khá mờ và không có ngôi sao nào có độ sáng cấp một, nằm giữa Thất Nữ về phía tây và Hổ Cáp (Bọ Cạp) về phía đông. Như tên gọi của các sao sáng hơn cả, nó là một phần trong các vuốt của Bọ Cạp. Tên Gọi Chòm sao này nguyên thủy được coi là tạo thành một phần vuốt của con bọ cạp (Bọ Cạp), là cung chiêm tinh xuất hiện muộn nhất và là cung duy nhất không có đại diện tượng trưng là các thực thể sống. Trong thần thoại Hy Lạp sau này, chòm sao khi quan sát nó riêng rẽ thì lờ mờ giống như bộ cân đĩa và được miêu tả như là cái cân được giữ bởi nữ thần công lý Astraea (được xác định như là Thất Nữ). Bởi vì Thiên Xứng nguyên thủy là một phần của Thất Nữ (Virgo) (như là cái cân), và trước đó là của Thiên Hạt, nên nó đã không phải là một thực thể rõ rệt mà cung hoàng đạo đã được đặt tên theo. Vị trí của nó có thể bị chiếm bởi Mục Phu, là chòm sao gần nhất đối với hoàng đạo. Do vị trí của của Mục Phu (Boötes) cần phải được giữ trên hoàng đạo là bị khuyết, nó có thể cùng với Đại Hùng, Thiên Long (Draco) và Tiểu Hùng, cũng trong Thiên Xứng, dẫn tới huyền thoại về các quả táo của Hesperides, một trong Mười hai kỳ công của Heracles. Chòm sao Bò Cạp – Scorpio (24/10 – 22/11) Chòm sao Thiên Yến (tiếng Latinh: Apus) là một chòm sao mờ, nằm ở bầu trời phía nam, mà các nhà thiên văn học cổ đại đã không thể quan sát được. Chòm sao này là một trong số 12 chòm sao được Pieter Dirkszoon Keyser và Frederick de Houtman đặt ra trong khoảng những năm 1595 tới 1597, và nó lần đầu tiên xuất hiện trong cuốn sách Uranometria của Johann Bayer năm 1603. Tên Gọi Trong tiếng Việt, chòm Thiên Yến còn có tên Chim Trời. Trong tiếng Latinh, Apus có nghĩa là chim thiên đường hoặc chim yến. Tiếng tiếng Hy Lạp απους có nghĩa “không chân”. Chim yến có bộ lông đẹp, nhưng đối với người bản địa chúng có đôi chân xấu xí, vì thế họ chặt bỏ chân chim, trước khi bán phần đẹp còn lại cho người châu Âu Chòm sao Xạ Thủ – Sagittarius (23/11 – 21/12) Nhân Mã, tên Latinh: Sagittarius, biểu tượng là một trong mười hai chòm sao trên hoàng đạo, nằm giữa chòm Thiên Hạt về phía tây và chòm Ma Kiết về phía đông. Đây là một chòm sao hoàng đạo nên có thể quan sát các hành tinh và Mặt Trăng trong chòm sao này. Mặt Trời đi qua điểm xuân phân ở xích kinh 18h và xích vĩ -23,5°. Khi đó người quan sát tại vĩ tuyến nam 23° 30´, gọi là chí tuyến Nam sẽ thấy Mặt Trời tại thiên đỉnh. Thuật ngữ “chí tuyến Nam” trong nhiều ngôn ngữ khác mang nghĩa chí tuyến Ma Kiết do điểm xuân phân trước đây vài nghìn năm nằm ở chòm sao Ma Kiết. Tên Gọi Theo thần thoại Hy Lạp, ngoài hình ảnh các thần, thú vật, anh hùng v.v… trên bầu trời có nhiều ác quái, trong đó có các nhân mã nửa người nửa ngựa. Trong số quái vật đó Chiron là nhân mã thông minh, là thầy của Heracles nằm trong chòm Bán nhân mã (Centaurus), còn nhân mã khác đã sáng chế ra cung nỏ đã được đưa lên chòm sao Nhân Mã. Người Ả rập hình dung hình ảnh hai đàn đà điểu trong chòm sao này, một đàn đang đi và một đàn đang đến sông Ngân Hà để uống nước [1]. Người Sumeria cách đây 4.000- 5.0000 năm xem chòm sao này là biểu tượng của thần chiến tranh Nergal của họ. Chòm sao Ma Kết – Capricorns (22/12 – 20/1) Chòm sao Ma Kiết, tiếng Latinh Capricornus, biểu tượng là một trong mười hai chòm sao hoàng đạo, nằm phía tây đối với chòm sao Nhân Mã, phía đông nam đối với chòm sao Bảo Bình, là một trong 48 chòm sao Ptolemy. Chòm sao này còn có tên Ma Kết, Kết Toà, Sơn Dương Tòa, Nam Dương. Tên Gọi Người Hy Lạp cổ gọi thần của rừng, của đồng cây, đàn thú và của những người chăn thú là Pan, người Roma gọi là Faun. Vì hình dáng của Pan ghê sợ, nên Pan thường lẩn tránh nơi rừng núi và hay chơi kèn. Pan hay chơi nhạc cho các nữ thần Nymfa (tiếng Hy Lạp: Nymfai) nhảy múa vào những đêm sáng. Hình thù của Pan với bộ râu dài, đầu có sừng làm con người sợ hãi, nhưng Pan là biểu tượng của lòng mến khách hiền hòa. Khi ở một mình trong rừng hay nơi vắng, Pan còn hay hãi sợ vô lý, vì thế ngày nay trong một số ngôn ngữ có từ hãi sợ có nguồn gốc từ tên Pan (tiếng Anh: panic, tiếng Slovak: panický v.v…). Trong các bản đồ sao cổ, Pan thường xuất hiện như một con thú đuôi cá, đầu và mình dê. Người Babylon gọi là Cá Dê. Có thể giải thích sự xuất hiện của hình ảnh này có từ 2000 năm trước, khi mùa mưa của các miền Cận Đông và Địa Trung Hải bắt đầu khi Mặt Trời đi ngang qua chòm sao này. Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa khi Pan đang uống rượu với bạn bè thì con quỉ Typhon trăm đầu nhảy đến. Vì sợ quá mỗi người chạy trốn một nơi và biến thành một con thú nào đó. Pan muốn biến thành cá, nhảy xuống nước, nhưng sợ quá nên không nhúng hết mình xuống nước. Vì thế phần thì thành cá, phần thì thành dê. Zeus tống quỉ Typhon xuống núi lửa Etna còn Pan được đưa lên trời. Chòm sao Thuỷ Bình – Aquarius (21/1 – 19/2) Chòm sao Bảo Bình, tiếng Latinh Aquarius, biểu tượng là một trong mười hai chòm sao hoàng đạo, nằm phía tây đối với chòm sao Ma Kiết, phía đông nam đối với chòm sao Song Ngư, là một trong 48 chòm sao Ptolemy. Tên Gọi Chòm sao Bảo Bình là một trong những chòm sao mà người Babylon cổ đã biết đến. Đa số coi đây là hình ảnh thần Diem bay từ trên trời xuống trần để lấy nước. Chòm sao này còn có tên Cái Bình, Bảo Bình tòa. love4evens M.Y Tổng số bài gửi: 237 Age: 21 Đến từ: Narnia ^^ Re: Bí Mật Các Chòm Sao ^^ by love4evens on Fri Jul 11 2008, 00:05 Chòm sao Song Ngư – Pisces (20/2 – 20/3) Chòm sao Song Ngư, (tiếng La Tinh: Pisces, biểu tượng ) là một trong 48 chòm sao Ptolemy và cũng là một trong 88 chòm sao hiện đại, mang hình ảnh đôi cá. Chòm sao Song Ngư là một trong các chòm sao hoàng đạo. Điểm phân xuân đang nằm trong chòm sao này. Chòm sao lớn này có diện tích 889 độ vuông, chiếm vị trí thứ 14 trong danh sách các chòm sao theo diện tích. Chòm sao Song Ngư nằm kề các chòm sao Tam Giác, Tiên Nữ, Phi Mã, Bảo Bình, Kình Ngư, Bạch Dương. Tên Gọi Nhiều dân tộc nhìn thấy hình ảnh con cá hay đôi cá trong chòm sao hoàng đạo này. Theo thần thoại Hy Lạp, nữ thần Afrodita và con trai Eros đang đi dạo trên bờ sông Eufrat thì bất ngờ đối mặt với khổng lồ Typhon trăm đầu. Typhon có thể hóa phép thành người, chó hay thành rồng và nó hủy hoại bất cứ cái gì nó thấy. Nữ thần cùng con trai hoảng sợ, nhảy xuống trốn dưới nước sông Eufrat, hóa thành hai con cá. Để khỏi lạc nhau, hai mẹ con nối đuôi cá của mình với nhau bằng một dải băng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Phác Thảo Mười Hai Cung trên website Getset.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!