Xu Hướng 2/2023 # Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu) # Top 4 View | Getset.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu) # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu) được cập nhật mới nhất trên website Getset.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chỉ ra và phân tích giá trị của biện pháp tu từ ngữ âm trong câu thơ sau: “Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan/ Đường bạch dương sương trắng nắng tràn” (Tố Hữu)

Giá trị văn học của một tác phẩm được làm nên từ hai khía cạnh chính là nội dung và hình thức. Hình thức là yếu tố quan trọng đầu tiên để tiến tới tìm hiểu nội dung tác phẩm. Trong hình thức, có một nhân tố tưởng chừng là nhỏ nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong việc khiến cho nội dung tác phẩm thêm phong phú. Yếu tố ngữ âm trong hai câu thơ sau đây của Tố Hữu là một ví dụ:

“Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn”.

Khi nói đến ngữ âm, người ta nói đến các đơn vị cấu tạo nên nó là âm vị, hình vị và từ. Những yếu tố này ở những cấp độ khác nhau đã làm nên giá trị trong thơ văn. Có thể nhận thấy, hai câu thơ mang âm hưởng chung như một tiếng reo vui trước cảnh thiên nhiên tươi đẹp, mới lạ nơi nước bạn xa xôi. Câu thơ được mở ra với toàn là những âm mở: “an, ang, ơi”. Đây là những âm có độ mở khẩu hình lớn nhất trong tiếng Việt. Nó là những âm sáng, gợi cảm giác tươi vui, rộng mở. Ta đã được nghe những bài thơ có vần tương tự như:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Cũng là vần “ơi”, cũng gợi ra độ rộng mở, tiếng gọi của bốn câu thơ mang một cảm xúc giống nhau: vui tươi, hứng khởi. Và cảnh thiên nhiên như được chuẩn bị sẵn để xuất hiện trong tiếng gọi đầy tươi sáng. Hai câu thơ là cách nhìn bức tranh thiên nhiên hướng tới cảm xúc, gợi lên bức tranh thiên nhiên với rất nhiều gam màu tươi sáng. Đó là màu trắng của sương tuyết, màu của hàng cây bạch dương và màu của nắng, có lẽ là rất vàng để những gam màu kia dù là trắng nhưng cũng vẫn thật ấm áp. Sắc màu của sự sống như đang lan tràn, tràn ngập ra khắp xung quanh, tràn vào trong lòng thi nhân, trong tiếng reo vui đầy hứng khởi. Bên cạnh đó, đọc hai câu thơ người ta còn bị ấn tượng bởi cách gieo thanh điệu. Câu thơ chủ yếu là vần bằng. Không phải là toàn vần bằng như hai câu thơ của Xuân Diệu: “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời / Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” – làm cho người đọc thơ như cũng có cảm giác… chơi vơi theo, ở đây sử dụng chủ yếu là vần bằng (Hai câu thơ mười bốn chữ có tới mười thanh bằng) nhưng không gợi cảm giác buồn như vẫn thường có mà kết hợp với các thanh trắc, cùng với những âm mở, khiến cho ta cảm nhận được niềm hân hoan trong cảm xúc của nhà thơ trước khung cảnh thiên nhiên đẹp và mới lạ của nước bạn. Tiếng reo vui hân hoan cũng là một lời san sẻ với người mình yêu thương, với quê hương, đất nước mình.

Hình ảnh và ngôn từ thơ cùng với cái tình thơ của thi nhân sẽ mãi làm nên ấn tượng đặc biệt cho bất cứ ai khi đọc hai câu thơ.

chúng tôi

Giá Trị Của Hạnh Phúc Trong Bộ Sách Song Ngữ ‘The Way’

Bộ sách sử dụng những câu chuyện, câu chuyện từ các tôn giáo khác nhau ở Việt Nam để nêu bật những giá trị và đạo lý làm người.

Chúng ta thường tìm kiếm hạnh phúc trong vật chất và bị mắc kẹt trong vòng lặp vô tận của quá khứ và tương lai. Đôi khi những khoảnh khắc nhỏ bé, giản dị, đời thường mới là điều đáng quý nhất. Bộ sách song ngữ Con đường Hãy hướng đến những giá trị đơn giản nhưng chứa đựng nhiều điều đáng suy nghĩ về hạnh phúc.

Sách Con đường sử dụng các thuật ngữ cơ bản dễ tiếp cận với nhiều đối tượng. Mỗi cuốn sách đều mang những ý nghĩa tích cực, những triết lý nhân sinh từ các tôn giáo phổ biến của Việt Nam, những câu chuyện ngắn về chủ nghĩa nhân văn được sưu tầm từ các tác phẩm. Nhục Thiền, Tuyển tập truyện cực ngắn, Tiền thân của Đức Phật Thích Ca. Hay những câu châm ngôn súc tích lấy từ các tác phẩm kinh điển trong kinh thánh.

Cuốn sách song ngữ “Con đường” mang màu sắc của các tôn giáo về lối sống chuẩn mực của con người.

Với cốt lõi là những châm ngôn, những tác phẩm kinh điển về tôn giáo, mỗi câu chuyện trong Con đường đều ẩn chứa những thông điệp sâu sắc về cuộc sống. Dù tôn trọng tôn giáo nào, hãy để tâm hồn họ rộng mở và cố gắng trau dồi theo những giá trị sống tốt đẹp.

Cuốn sách cũng là một công cụ hữu hiệu cho những người học tiếng Anh.

Điểm nổi bật khác của bộ sách là mọi thông điệp và câu chuyện đều được minh họa đẹp mắt theo đúng nghĩa đen. Sách Con đường Mặc dù nó chứa đựng những bài học mang tính tôn giáo, nhưng không chỉ giới hạn ở những người theo đạo mà còn dành cho những độc giả nhỏ tuổi muốn làm đẹp tâm hồn và cuộc sống của mình.

Ngoài việc giúp người đọc nâng cao khả năng tiếng Anh, bộ truyện mở rộng tư duy và tư duy tôn giáo, sẵn sàng tiếp thu những điều mới mẻ.

Hung cuong

Lịch sử của người An Nam ở Paris hoặc sự thật về Đông Dương

Trong hồi ký “Lịch sử những người An Nam ở Paris hay sự thật về Đông Dương”, tác giả Phan Văn Trường, một nhà quan sát tự phong, đã nhanh chóng nhìn ra những bất công mà người Pháp gây ra cho nhân dân An Nam.

#Giá #trị #của #hạnh #phúc #trong #bộ #sách #song #ngữ.

Nguồn: vietnamnet.vn

Đọc Văn Mẫu Lớp 10 Phân Tích Đặc Trưng Cơ Bản Của Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Trong Hai Câu Thơ Sau: “Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan. Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” Online Chương Mới

Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu hình ảnh, sắc màu. Hình ảnh thơ bao giờ cũng là sự kết tinh của việc sử dụng ngôn ngữ. Vì thế hình ảnh thơ luôn có ý nghĩa trong việc tạo hiệu ứng nghệ thuật, góp phần khẳng định sự hiện hữu của thơ. Vì ‘thơ là biểu tượng, là hình ảnh. Thơ tạo dựng một vũ trụ qua trung gian biểu tượng một vũ trụ phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa trong tính cách phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa trong tính cách phi thực của nó. Hơn đâu hết, biểu tượng hình ảnh là điều kiện của thơ ,lý do tồn tại của thơ, biểu tượng chính của thơ” (Huỳnh Phan Anh). Như vậy dù là tiếng vọng từ tâm linh, là tiếng gọi từ trong vô thức thì thơ cũng phải tồn sinh dựa vào nhiều phương thức biểu hiện, trong đó không thể không có ngôn ngữ và hình ảnh – những thi liệu đầu tiên mà người đọc chạm tới trước khi bước vào khám phá thế giới mộng mị và hư ảo của thơ. “Thơ là vũ trụ những hình ảnh có giá trị một sự mê hoặc, một thứ ma thuật. Nó biến thành hình ảnh của chính hình ảnh”. Nhưng “Thơ không là thực tại, không là tổng số những hình ảnh xác định một thực tại rõ ràng. Nó là một ước muốn hơn thế nữa là một đam mê mù quáng cũng nên” (Huỳnh Phan Anh). Rõ ràng, hình ảnh thơ không phải là tổng số của nhiều hình ảnh mà chính sự chọn lọc những hình ảnh có giá trị biểu cảm, có tính hàm súc, tạo hiệu ứng nghệ thuật cao, mới thể hiện tư tưởng, tinh thần lập ngôn và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Nhà thơ không nói bằng phạm trù của tư duy lô-zic như trong các môn khoa học tự nhiên mà thông qua hình ảnh cụ thể để diễn đạt những ý niệm trừu tượng.

Nhà thơ Tố Hữu viết về bốn mùa (đông, xuân, hè, thu) ở Việt Bắc bằng ngôn ngữ giàu tính họa (có người gọi đây là bức tranh tứ bình):

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

Khương Hữu Dụng viết Một tiếng chim kêu sáng cả rừng (Hành quân qua đèo Hải Vân) tạo cảm giác như ta vừa bước từ bóng tối ra ánh sáng, thật sung suớng.

Hay như Nguyễn Duy trong bài “Lời ru đồng đội”, viết:

Ngủ hầm, ngủ võng, ngủ bưng

Gối đầu tay ngủ cầm chừng mỗi đêm

Có người ngủ thế thành quen

Đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình.

Có nhà thơ so sánh mái tóc dài của thiếu nữ khá độc đáo: Tóc em dài như một tiếng chuông ngân. (chuyển từ quan sát bằng thị giác sang thính giác). Hay Trần Đăng Khoa cảm nhận được âm thanh rất nhẹ của chiếc lá đa rơi trong bài “Đêm ngủ ở Côn Sơn”: Ngoài thềm rơi chiếc lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng… (chuyển sự cảm nhận từ thính giác sang thị giác). Tất cả những câu thơ trên đều gợi liên tưởng, tạo hình tượng khá rõ. Nếu không có trí tưởng tượng kỳ diệu thì khó mà viết được những câu thơ như thế. Để có được những từ ngữ “lóe sáng” đó, ngoài vốn từ vựng phong phú, nhà thơ còn phải biết kết hợp các biện pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, điệp từ, tượng trưng, nói quá, nói giảm…trong cách diễn đạt.

Chế Lan Viên viết về nỗi nhớ một cách trực tiếp thật đẹp qua một loạt hình ảnh so sánh trùng điệp gợi trường liên tưởng rộng:

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

(Tiếng hát con tàu)

Nỗi nhớ trong tình yêu giữa anh với em là tất yếu như quy luật đất trời đông về nhớ rét . Còn tình yêu ta quý như cánh kiến hoa vàng- một thứ đặc sản của núi rừng Tây Bắc và đẹp như sắc biếc lông chim lúc xuân sang. Tác giả đã cụ thể hóa khái niệm trừu tượng là tình yêu thành những hình ảnh gần gũi, quen thuộc với con người, nhất là người miền núi.

Ở một bài khác, ông lại bộc lộ nỗi nhớ sâu lắng hơn, trăn trở và da diết hơn:

Anh nhớ em như đất liền xa cách bể

Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em

Em thân thuộc sao thành xa lạ thế

Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm.

Không tin vào cuộc sống, không tin vào tình yêu, tất cả trước mắt chỉ là một màu xanh ảm đạm, Nguyễn Bính tìm tới cá quán trọ bên đường, tới chiếc lá khoai để so sánh với tình yêu vô vọng:

Lòng em như quán bán hàng

Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi

… Lòng em như chiếc lá khoai

Đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu.

(Hai lòng)

Ta có thể bắt gặp vô vàn những hình ảnh so sánh ví von tạo hình ảnh độc đáo trong thơ Xuân Diệu: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần, Tóc mịn đầy tay như suối mát, Lá liễu dài như một nét mi, Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ, Mây đa tình như thi sĩ thời xưa, Cuộc đời cũng đìu hiu như dặm khách. Mà tình yêu như quán trọ ven đường…

Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm. Như nhịp đập của trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó. Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy. Có thể xem tính nhạc là nét đặc thù rất cơ bản của ngôn ngữ thơ.

“Nhạc điệu là một yếu tính của thi ca. Thiếu nhạc tính thơ trở thành văn xuôi” (Bằng Giang). Bởi nhạc tính như một nét duyên thầm làm nên vẻ đẹp của thơ, cũng là một yếu tố tạo mỹ cảm cho người đọc. “Ly khai với nhạc tính, thơ chỉ còn là một nhan sắc trơ trẽn thiếu duyên” (Tam Ích). Và “Thơ là sự phối hợp của âm thanh”. Thơ bao giờ cũng là sự kết hợp hài hòa giữa ý và nhạc. Nếu “rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất dễ khô khan. Rơi vào cái vực nhạc thì thơ dễ làm say lòng người nhưng dễ nông cạn” (Chế Lan Viên). Rõ ràng, nhạc tính là tiếng nói linh diệu của thi ca, gợi thức trí tưởng tượng của người đọc, nói như La Fontaine “Chẳng có thơ nào không có nhạc”. Hơn bất cứ ngôn ngữ ở thể lọa nào khác, ngôn ngữ thơ với tính cách là một thứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hòa âm, tiết tấu, giàu từ láy âm, tượng hình, chính là thứ ngôn ngữ giàu tính nhạc. Nhạc tính trong thơ được tạo nên từ nhiều yếu tố như nhịp điệu, cách gieo vần, phối thanh…

Vần là sự lặp lại những âm thanh tương tự để tạo chỗ dựa cho nhạc tính. Thơ có vần chính và vần thông. Vần chính là vần cùng một khuôn âm, vần thông là theo một khuôn âm tương tự. Xét về vị trí vần, còn chia ra vần chân và vần lưng. Thơ tự do ngày nay không bó buộc về hiệp vần, nhưng các nhà thơ vẫn sử dụng vần như một yếu tố biểu cảm làm tăng vẻ đẹp của thơ:

Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan

Đường Bạch Dương sương trắng nắng tràn

Tố Hữu lặp lại vần ngay trong một dòng thơ khiến câu thơ như ngân lên điệu nhạc du dương, man mác.

Nếu ngôn ngữ và hình ảnh là những yếu tố song hành thì âm điệu cũng là yếu tố đồng hành với tính nhạc. Nói một cách hình ảnh, nếu ngôn ngữ là sợi dây đàn thì nhạc tính và âm điệu là những cung bậc thanh âm ngân lên từ sợi dây đàn ấy. Việc kiến tạo âm điệu trong thơ cũng chính là kiến tạo nhạc tính. Và âm điệu cũng là chiếc cầu nối thơ với người đọc, dẫn dụ người đọc đi vào thế giới màu nhiệm của thơ ca. Các câu thơ sau sở dĩ “đầy nhạc” chính vì sự tập trung dày đặc các nguyên âm mở và phụ âm vang tạo âm điệu cho thơ:

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận (Nguyệt cầm – Xuân Diệu)

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang (Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử)

Nam đình nghe động trống chầu đai doanh. (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Nhạc thơ chủ yếu còn do các thanh điệu tạo nên. Xuân Diệu viết hai dòng toàn bằng để gợ tả điệu nhạc du dương đưa tâm hồn phiêu diêu bay bổng khi nghe Nhị Hồ:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.

Câu thơ của Bích Khê sở dĩ đầy nhạc tính như ta cảm thấy chính là vì đã tập trung được các thanh bằng một cách dày đặc nhất:

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông…

(Tỳ bà)

Tản Đà trong hai câu thơ:

Tài cao phận thấp chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hương

Đã sử dụng một nhịp điệu đặc biệt trên cơ sở tương phản về thanh điệu như hai vế đối lập. Câu trên là một tình thế bất công, một cảnh ngộ uất ức. Câu thơ bị dồn chặt, đóng chặt bởi những từ ngắn mang thanh trắc giống như uất ức bị nén lại. Câu thơ sau là một hướng giải quyết tiêu cực và buông xuôi, toàn bộ câu thơ trôi đi trên thanh bằng như một sự buông tỏa, giải thoát, không có phương hướng, không có gì níu giữ lại. Câu thơ thứ nhất với chủ âm thanh trắc, câu thơ thứ hai chủ âm thanh bằng diễn đạt được trạng thái buông xuôi của nhà thơ, chính âm thanh của chữ nghĩa đã tạo nên những điều mà chữ nghĩa không nói hết.

Nói đến yếu tố tạo tính nhạc cho thơ phải kể đến vai trò của nhịp điệu. Maiacovki từng khẳng định: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lượng cơ bản của câu thơ”. Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ người nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối.” (Isokrate). Theo giáo sư Hà Minh Đức: “Nhịp điệu là kết quả của một sự chuyển động nhịp nhàng, sự lặp lại đều đặn những âm thanh nào đó ở trong thơ.”. Nhịp thơ có thể dài, ngắn, đọc lên có thể nhanh hay chậm phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc:

Nhiều đấy ư em/ mấy tuổi rồi?

– Hai mươi.

– ờ nhỉ/ tháng năm trôi

Sóng bồi thêm bãi/ thuyền thêm bến

Gió lộng đường khơ/ rộng đất trời!

(Tố Hữu)

Thơ là thể loại “ý tại ngôn ngoại”. Việc kiệm lời, kiệm chữ là một yêu cầu tối quan trọng đối với nhà thơ. “Thơ cốt ở ý, ý cốt sâu sa thì thơ mới hay. Không phải bất cứ điều gì phải nói ra bằng lời thì mới là thơ có giá trị. Ý hết mà lời dừng là cái lời hết mực song lời dừng mà ý chưa hết thì lại càng hay tuyệt” (Hải Thượng Lãn Ông).

Mỗi từ ngữ trong câu thơ phải diễn tả được đúng điều mà nhà thơ nhìn thấy, cảm thấy và những điều sẽ thấy. Lựa chọn được một từ ngữ “đắt” để diễn đạt một ý không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Nói như Maiacôpxki, quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống như người lọc quặng radium:

Lấy một gam phải mất hàng năm lao lực.

Lấy một chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ.

Trong một trường liên tưởng của từ ngữ có nhiều từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa…, người viết cần liệt kê vài từ để chọn. Tản Đà đã suy nghĩ rất nhiều khi chọn từ “khô” để đưa vào câu thơ: Non cao những ngóng cùng trông/ Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày (Thề non nước). Nếu thay từ khô bằng từ tuôn, hay từ trôi thì hiệu quả sẽ như thế nào?

Hay từ “ép” trong câu: Tuổi già hạt lệ như sương/ Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan là một “nhãn tự” (mắt chữ) trong bài Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Ta bắt gặp trong Nguyễn Du, một bậc thầy về ngôn ngữ thơ ca, những sáng tạo kỳ diệu. Chỉ trong một câu thơ ngắn Ghế trên ngồi tót sỗ sàng, với chỉ một từ tót thôi, Nguyễn Du đã giết chết tên Giám Sinh họ Mã (Hoài Thanh). Hay Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào. Với một từ lẻn, Nguyễn Du đã lột trần bản chất con người Sở Khanh.

Hàm súc và giàu sức biểu hiện, ngôn ngữ thơ ca cô đúc, chặt chẽ với sỗ từ rất hạn định nhưng năng lực biểu hiện lại rất lớn. Vấn đề đặt ra với mỗinhà thơ là phải chọn một cách nói tốt nhất đến mức đô người ta cảm thấy không thể khác được.

Thơ hay bao giờ cũng là cuộc hôn phối kỳ diệu giữa âm thanh và ý nghĩa, hình ảnh. Chữ và nghĩa trong ngôn ngữ thi ca hòa quyện với nhau như hình với bóng, như xác với hồn nên việc tách rời chúng ra khỏi nhau sẽ làm tổn hại đến bình diện ngôn ngữ và thẫm mỹ của câu thơ.Thơ không phải là một mớ lý thuyết mà là một thực thể ngôn ngữ,. Và thơ ca ám ảnh người đọc phải chăng cũng vì vẻ đẹp toát ra từ “thực thể ngôn ngữ” ấy. Vũ trụ tâm hồn thi nhân có hòa điệu với tâm hồn người đọc không, có “tri âm” với người tiếp nhận hay không, tất cả phải thông qua chiếc cầu ngôn ngữ, nói như Bùi Giáng “thi ca vẫn có sức đưa dẫn người ta vào giữa huyền nhiệm của cuộc sống. Ngôn ngữ thơ bao giờ cũng là hóa công của người nghệ sĩ. Mỗi chữ trong thơ đều là sự vang vọng từ tâm hồn thi nhân. Vì “Thực chất của thơ là cái linh hồn, là sự sống của những chữ ta dùng. Làm văn xuôi, chữ không có sức mạnh ma quái như vậy (…) thi nhân là một thần linh nói một thứ chữ riêng mà thế nhân phải diễn tả dài dòng thô lậu” (Nguyên Sa).

Phân Tích Hồi Quy Nhị Phân Binary Logistic Trong Spss

Bài viết này được đăng tải duy nhất và thuộc bản quyền của Phạm Lộc Blog. Việc chia sẻ lại nội dung lên website khác vui lòng dẫn nguồn link bài viết gốc này. Xin cảm ơn!

1. Khái niệm hồi quy nhị phân (Binary Logistic)

Hồi quy nhị phân hay còn gọi là hồi quy Binary Logistic là mô hình khá phổ biến trong nghiên cứu dùng để ước lượng xác suất một sự kiện sẽ xảy ra. Đặc trưng của hồi quy nhị phân là biến phụ thuộc chỉ có 2 giá trị: 0 và 1.

Khi biến phụ thuộc ở dạng nhị phân thì không thể phân tích với dạng hồi quy thông thường vì nó sẽ vi phạm các giả định, dễ thấy nhất là khi biến phụ thuộc chỉ có hai biểu hiện thì không phù hợp khi giả định rằng phần dư có phân phối chuẩn, mà thay vào đó nó sẽ có phân phối nhị thức, điều này sẽ làm mất hiệu lực thống kê của các kiểm định trong phép hồi quy thông thường.

2. Phương trình hồi quy nhị phân

Phương trình hồi quy nhị phân Binary Logistic có dạng:

Ứng dụng rất mạnh của hồi quy nhị phân Binary Logistic là khả năng dự báo. Từ phương trình hồi quy, chúng ta có phương trình mô hình hàm dự báo như sau:

Trong đó P i = E(Y = 1/X) = P(Y = 1) gọi là xác suất để sự kiện xảy ra (Y = 1) khi biến độc lập X có giá trị cụ thể X i .

3. Thực hành phân tích hồi quy nhị phân trên SPSS

Thực hiện phân tích hồi quy nhị phân bằng phần mềm SPSS ở ví dụ dưới dây. Đây là nghiên cứu của một ngân hàng nhằm xem xét khả năng trả nợ của các cá nhân để quyết định có nên cho họ vay vốn hay không. Biến phụ thuộc TraNo mang 2 giá trị, 0 biểu hiện ý nghĩa không trả được nợ, 1 biểu hiện ý nghĩa trả được nợ. Có 3 biến độc lập trong mô hình tác động lên biến phụ thuộc TraNo gồm:

Trình độ học vấn (HocVan): số năm đi học

Độ tuổi (Tuoi): số tuổi đến hiện tại

Thu nhập hàng tháng (ThuNhap): mức thu nhập hàng tháng tính bằng triệu đồng

Hồi quy với biến độc lập định tính (biến giả Dummy) trên SPSS.

Đưa biến phụ thuộc Y vào mục Dependent. Đưa các biến độc lập vào mục Covariates.

Tại mục Method, chọn phương pháp Enter. Tiếp tục nhấp vào OK để xuất các bảng kết quả.

Bảng Dependent Variable Encoding cho biết biến phụ thuộc đang mang 2 giá trị, “Không trả được nợ” mã hóa là 0 và “Trả được nợ” mã hóa là 1.

Phần tiếp theo là mục Block 0. Chúng ta sẽ bỏ qua phần này bởi vì các kết quả phân tích ở Block 0 nằm ở trường hợp không có bất kỳ biến độc lập nào được đưa vào mô hình. Chúng ta sẽ sử dụng kết quả ở Block 1: Mô hình với đầy đủ các biến độc lập được đưa vào xử lý.

Bảng đầu tiên là Omnibus Tests of Model Coefficients. Bảng này cho kết quả phân tích các hệ số của mô hình. Step 1 là bước thứ nhất trong chạy mô hình Logistic. Do ở đây chúng ta dùng phương pháp Enter đưa các biến độc lập vào cùng một lần nên chỉ xuất hiện Step 1 trong kết quả thống kê. Trường hợp dùng các phương pháp khác bảng này sẽ có thêm các Step 2, 3, 4 tùy số lượng biến đưa vào.

Cột Chi-square và Sig. thể hiện kết quả của kiểm định Chi bình phương, đây là kiểm định để xem hệ số hồi quy của các biến độc lập có đồng thời bằng 0 hay không. Do phương pháp được chọn là Enter nên 3 giá trị sig của Step, Block và Model đều như nhau (hiện không có nhiều tài liệu đề cập đến việc chạy hồi quy Logistic bằng các phương pháp khác). Trong trường hợp này, sig của cả 3 chỉ số này đều bằng 0.000 < 0.05 (độ tin cậy 95%) nên mô hình hồi quy có ý nghĩa thống kê.

Bảng Model Summary cho kết quả tóm tắt của mô hình. Cột -2 Log likelihood (ký hiệu à -2LL) là một thông số để xem xét so sánh giữa các mô hình hồi quy với nhau, mô hình nào có -2LL nhỏ hơn sẽ tốt hơn. Thông số này không mang nhiều ý nghĩa nếu không có sự so sánh với mô hình hồi quy khác.

Hai cột Cox & Snell R Square và Nagelkerke R Square là giá trị R bình phương giả. Hồi quy logistic không sử dụng giá trị R bình phương giống với hồi quy tuyến tính. Cũng giống như -2LL, 2 chỉ số này dùng để so sánh các mô hình hồi quy khác nhau trên cùng một bộ số liệu, cùng một biến phụ thuộc để xem mô hình nào tốt hơn. Mô hình tốt hơn sẽ có R bình phương lớn hơn.

Bảng Classification Table cho thấy phân loại đối tượng trả được nợ và không trả được nợ theo hai tiêu chí: quan sát thực tế và dự đoán. Ý nghĩa:

Trong 129 trường hợp quan sát không trả được nợ, thì dự đoán có 122 trường hợp không trả được, tỉ lệ dự đoán đúng là 122/129 = 94.6%.

Trong 171 trường hợp quan sát trả được nợ, dự đoán có 168 trường hợp trả được, tỉ lệ dự đoán đúng là 168/171 = 98.2%.

Như vậy, tỷ lệ trung bình dự đoán đúng là (94.6 + 98.2)/2 = 96.7%.

Độ tuổi: 35 tuổi

Thu nhập: 17 triệu/tháng

Cập nhật thông tin chi tiết về Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu) trên website Getset.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!