Xu Hướng 3/2024 # Cách Thực Hành Từ Bi Hỷ Xả Để Đạt Được Đại Lạc # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cách Thực Hành Từ Bi Hỷ Xả Để Đạt Được Đại Lạc được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Getset.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tứ Vô Lượng Tâm là bốn tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả vô lượng vô biên trải rộng đến tất cả khắp cùng mười phương pháp giới chúng sinh, cầu nguyện cho họ nhanh chóng được giải thoát giác ngộ.

Để hiểu được Bồ đề tâm, Đức Phật có dạy phương pháp thực hành về Tứ Vô Lượng Tâm. Chúng ta phải trải rộng tâm mình, hướng động cơ tu tập của mình tới hết thảy chúng sinh vô lượng, không giới hạn, không trừ một ai. Chúng ta luôn mở đầu tất cả các pháp thực hành bằng sự thực hành Tứ Vô Lượng Tâm:

Nguyện chúng sinh đắc nhân an lạc,

Sống yên vui từng chớp sát na.

Nguyện chúng sinh muôn khổ lìa xa,

Thoát vòng tục lụy phiền hà thế gian.

Nguyện chúng sinh dứt khổ hân hoan,

Vô lượng hỷ lạc, từ quang sáng ngời.

Nguyện chúng sinh an trụ không rời,

Trong bình đẳng xả muôn đời vô ưu.

Vô Lượng Tâm thứ nhất là lòng Từ

Chúng ta phải phát triển lòng từ hướng về tất cả chúng sinh. Bắt đầu từ chính mình, rồi hướng rộng ra đến những người xung quanh mình. Nếu chúng ta ghét những người xung quanh mình, thì chúng ta sẽ không thể thương yêu những người khác nữa, nếu chúng ta rối loạn thì những người xung quanh chúng ta cũng rối loạn. Nếu chúng ta không phát triển được hiểu biết sâu sắc về chính mình thì sẽ rất khó để hiểu được người khác.

Đầu tiên bạn có thể phát triển tâm từ hướng về chính mình, sau đó bạn mới bắt đầu phát triển tâm từ này hướng về những người khác, rồi dần dần mở rộng thêm đến nhiều người hơn và cuối cùng chan trải khắp chúng sinh.

Trên thực tế, rất nhiều bậc thầy đã hướng dẫn chúng ta phát triển Tứ Vô Lượng Tâm hướng về những người mà mình yêu quý, đầu tiên bởi vì như thế sẽ dễ hơn cho sự thực hành, nhưng chúng ta cần hiểu rằng Bồ đề tâm chân thật không giới hạn, vô biên và vô lượng.

Vô Lượng Tâm thứ hai là lòng Bi

Tâm từ là mong ước hạnh phúc và những điều tốt lành cho chúng sinh. Từ là một loại mong nguyện tích cực, ví dụ khi chúng ta mong ước con cái mình, bạn bè mình, gia đình mình được may mắn và hạnh phúc, chúng ta sẽ có rất nhiều hy vọng và mong ước tích cực, đó là lòng Từ. Nếu chúng ta mong muốn chấm dứt khổ đau cho con cái, bạn bè và gia đình chúng ta, đó là lòng Bi. Lòng Bi xuất hiện khi chúng ta nghĩ đến những hoàn cảnh đau khổ, khó khăn mà người khác đang trải qua, và chúng ta mong muốn họ sẽ giải thoát khỏi những khó khăn đau khổ đó.

Trong Đạo Phật, khi thực hành Tứ Vô Lượng Tâm, chúng ta không chỉ nghĩ tới riêng cõi người mà hướng rộng ra tất cả các cõi khác như cõi súc sinh. Ví dụ: khi xem kênh “Khám phá thế giới động vật”, chúng ta sẽ thấy con vật này tấn công con vật khác, rồi chỉ vài phút sau lại có một con vật nữa tấn công con vật này. Tất cả những điều này đang xảy ra dưới biển, trên trời và trên mặt đất. Mặc dù chúng ta không thuộc cõi súc sinh, chúng ta cũng thực sự chia sẻ với cõi súc sinh. Mặc dù chúng ta đang ở trong cõi người, song cõi động vật cũng không khác nhiều với những gì chúng ta đang thấy. Thỉnh thoảng chúng ta cũng có những kinh nghiệm tương tự với loài súc sinh, bởi chúng ta cũng có một vài cách hành xử giống với loài súc sinh, không có nhiều sự khác biệt lắm.

Ở một vài quốc gia, mức độ của cái đói và cái chết mà loài người trải nghiệm cũng tương tự với loài động vật hay loài quỷ đói, con người thường xuyên chịu đau khổ vì đói khát, bệnh hoạn, chết chóc… Bởi vậy, chúng ta cảm thấy bi mẫn hướng về những chúng sinh đó, những con người đó. Chúng ta phải phát lòng đại bi đến cả cõi súc sinh. Theo lời Phật dạy, mỗi chúng ta đều đã gieo nghiệp nhân để tái sinh trong cõi súc sinh, chúng ta có thể là một loài súc sinh trong kiếp tương lai. Tương tự như vậy, loài động vật cũng có thể được tái sinh vào cõi người nếu chúng đã từng giữ gìn ngũ giới. Bởi vậy, Từ Vô Lượng và Bi Vô Lượng là hai khía cạnh chúng ta phát triển mạnh mẽ để trưởng dưỡng Bồ đề tâm, đặc biệt là tâm Bi.

Khi chúng ta khởi tâm từ và tâm bi tới một người mà chúng ta yêu thương nhất, có thể là một người trong gia đình mình hay trong số bạn bè mình, chẳng hạn như tới mẹ của bạn, đó cũng gần như là Bồ đề tâm. Song do tâm từ bi đó chỉ hướng tới một người, nên đó không phải là Bồ đề tâm chân chính. Sự chấp thủ này được gọi là ái kiến theo cách nhìn của Đạo Phật.

Bồ đề tâm cần phải được thực hành với Xả Vô Lượng Tâm. Không nên có sự phân biệt giữa bạn hữu, kẻ thù và tất cả chúng sinh. Mỗi người có một cách khác nhau để phát triển tâm Xả. Một số người phát triển tâm Xả trong giới hạn bạn bè hay những người quen, dần dần mở rộng tâm hướng tới những người hàng xóm, tới cả quốc gia, rồi đến toàn vũ trụ. Một số người cảm thấy không thoải mái khi chúng ta tụng lời cầu nguyện:

Con và hết thảy chúng sinh mẹ vô biên như hư không

“Vô biên” có nghĩa là không hạn cuộc, không giới hạn, và không đếm được. Như vậy nghĩa là không có sự phân biệt. Một số người lại thấy dễ dàng hơn khi nghĩ đến tất cả hữu tình, họ lại cảm thấy rất thoải mái ngay từ buổi đầu thực tập. Bởi vậy mức độ phát triển Bồ đề tâm viên mãn thế nào hoàn toàn tùy thuộc vào sự lựa chọn của bạn.

Có rất nhiều cách để phát triển Bồ đề tâm. Đối với giáo lý Mật thừa, dù thực hành pháp tu có cao cấp tới đâu, nếu thiếu Bồ đề tâm thì hoàn toàn không có nền tảng và vô cùng nguy hiểm. Với bất kỳ pháp môn nào, nếu không có Bồ đề tâm thì nghĩa là không có nền móng. Dù chúng ta có thể thực hành rất nhiều Bản Tôn, nhưng nếu chúng ta không hiểu và thực hành Bồ đề tâm, thì tuyệt đối không có cách nào để đạt được kết quả. Điều này đặc biệt nguy hiểm nếu chúng ta thực hành các Bản Tôn phẫn nộ, với tóc hung đỏ, hàm răng sắc nhọn và cầm kiếm trong tay. Nếu chúng ta quán tưởng và thực hành như vậy để phá hủy người khác hay đạt được năng lực mà thiếu Bồ đề tâm thì không được phép thực hành.

Guru Sengye Drathok, một trong tám hóa thân của Đức Liên Hoa Sinh

Bồ đề tâm là giáo lý căn bản trong truyền thống Đại thừa và càng quan trọng hơn trong truyền thống Mật thừa. Không một trang nào trong các nghi quỹ thực hành của Mật thừa không bắt đầu bằng việc phát Bồ đề tâm. Bởi Bồ đề tâm là nền tảng căn bản của mọi thực hành. Bồ đề tâm rất quan trọng. Mặc dù chúng ta đã hiểu Bồ đề tâm là gì nhưng chúng ta vẫn cần tu tập để phát triển, để thông qua những phương pháp thực hành cụ thể. Những phương pháp thực hành nhằm phát triển Bồ đề tâm cũng rất quan trọng.

Theo thứ tự các câu kệ về Tứ Vô Lượng Tâm, Từ Vô Lượng Tâm đứng đầu tiên, Bi Vô Lượng Tâm đứng thứ hai. Mong ước chúng sinh đạt được chân hạnh phúc đứng thứ ba và Xả Vô Lượng Tâm đứng thứ tư. Thực tế trong sự thực hành, chúng ta phải tu tập Xả Vô Lượng Tâm trước tiên. Nhờ nhận biết bản thân mình và tất cả chúng sinh đều bình đẳng, chúng ta phát tâm Từ vô lượng, Bi vô lượng và mong ước tất cả hữu tình đạt được chân hạnh phúc. Nhờ sự thực hành này, trạng thái an lạc, hạnh phúc sẽ xuất hiện trong tâm chúng ta. Khi thực hành Tứ Vô Lượng Tâm chúng ta sẽ thực sự trở nên mạnh khỏe và hạnh phúc, loại hạnh phúc này được gọi là Đại Lạc, còn được gọi là Hỷ vô lượng. Bởi vậy sự phát triển Bồ đề tâm thường bắt đầu với việc thực hành Tứ Vô Lượng Tâm.

(Khai thị của Đức Nhiếp Chính Vương Choegon Rinpoche Chokyi Sengye

Trích ấn phẩm “Những hành giả Yogis của Truyền thừa Drukpa”)

Xuân Từ Bi Hỷ Xả

Ngài Di Lặc ra đời vào đúng dịp xuân về. Phải chăng Ngài muốn nhắc nhở chúng ta không nên vướng bận với mùa xuân sanh diệt ngắn ngủi, chóng tàn. Bồ-tát Di Lặc đã mở ra một chân trời xuân thường hằng vĩnh cửu cho những hành giả muốn tiến bước trên con đường giải thoát.

Nụ cười hoan hỷ của Đức Phật Di Lặc 

Xuân đến, xuân đi, theo định luật tuần hoàn của vũ trụ. Xuân có một, nhưng tùy theo tâm tư, hoàn cảnh, hay nói chung tùy nghiệp thức của mỗi người mà cảm nhận về xuân khác nhau.

Theo thường tình của thế nhân, có kẻ vui mừng, hớn hở khi Tết đến xuân sang, có người lo sợ, tiếc nuối xuân tàn, hoặc thất vọng, âu sầu, khi nghĩ đến xuân:

Xuân đang tới nghĩa là xuân chưa qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết là đời ta cũng hết.

(Xuân Diệu)

Trái lại, dưới mắt thiền sư đắc đạo, xuân đến rồi đi, hoa nở rồi tàn. Tất cả mọi sự đổi thay, chuyển hóa của vạn vật không hề gợn sóng trong lòng các ngài. Trụ nơi tâm an nhiên, tự tại, các ngài thấy bốn mùa đều là xuân. Một mùa xuân nở trong tâm hồn, sống mãi trong lòng, không phải là mùa xuân tàn phai theo tháng năm bên ngoài:

Thị phi tiếng rụng theo hoa sớm

Danh lợi lòng băng với bão đêm

Mưa tạnh hoa rơi non vắng vẻ

Chim kêu xuân lại quá bên thềm.

Bốn câu thơ trên biểu hiện rõ nét niềm vui duy nhất của người tu hành, hay mùa xuân nở trọn vẹn cho hành giả, không gì khác hơn là ngộ đạo, đạt được lý tưởng sau một quá trình miệt mài tu hành dài lâu.

Cuộc đời dưới mắt người tu không có gì vui. Hoàn cảnh bên ngoài nhiều khi thật là hẩm hiu, nhưng một niềm vui sâu xa vô tận vẫn luôn trải rộng trong lòng hành giả. Vui vì hàng phục được ma oán, dẹp tan những chướng nghiệp, thị phi, danh lợi, tham lam, ghét ganh… nổi lên trong tâm hành giả.

Mới bước vào cuộc sống của người tu, hành giả luôn phải đối diện với hai mặt thuận nghịch. Bao nhiêu việc thị phi, phải trái, tốt xấu, khen ngợi, phỉ báng tràn ngập, nhồi nắn cuộc sống hành giả như trận bão lòng. Nhưng hành giả đã dứt khoát để ngoài tai những thị phi thế gian đầy phiền nhiễu này, xem chúng như những cánh hoa tàn úa rơi xuống đất, trả về cho cát bụi, không đáng quan tâm. Chẳng những thị phi không làm dao động tâm hồn hành giả, cho đến mọi cám dỗ, được thua, quyền lợi, danh thơm, tiếng xấu… chẳng có chút tác dụng gì đối với lòng hành giả đã đóng băng như tuyết lạnh trong đêm đen. Dưới mắt hành giả, thị phi, danh lợi chỉ là những thứ giả huyễn, rồi cũng tan biến ra mây khói, khi thân này chui xuống nấm mồ. Quán tưởng như vậy và lặn sâu vào lý Pháp giới để sống, tâm hồn hành giả thăng hoa theo từng bước tu chứng.

Trong thế giới khổ của chúng sanh, hành giả không khổ, vì đang sống với tạng tâm của mình. Sóng gió thị phi, danh lợi không còn khuấy động, hành giả tìm được niềm vui trong sự an tịnh. Một nguồn vui an tịnh không tìm cầu bằng cách sống ẩn dật, lánh xa trần thế, mà đó là niềm vui của tâm hồn bình ổn, thanh thản, lạc quan, kết quả của một quá trình từng bước diệt trừ vô minh, loại bỏ phiền não do tham lam, chấp trước gây ra.

Trong chân lý Khổ tập, Đức Phật chỉ rõ rằng chính lòng tham là nguyên nhân trực tiếp phát sinh mọi tội lỗi, khổ đau. Tâm ham muốn của con người, nếu có hình tướng, thì không còn chỗ nào dung chứa. Chúng sanh vì quá tham lam, muốn ôm tất cả những gì ngoài tầm tay, nên trở thành ngu si, mờ ám. Họ không còn thấy thực tế, hành động mê muội, làm thiệt hại quyền lợi của người và trái ngược với định luật khách quan hiện hữu. Vì vậy, họ phải chuốc lấy đau khổ, khổ trong từng sát-na tâm, không phải chết mới khổ.

Ghi nhớ lời Phật dạy, trên bước đường tu, hành giả quán sát tham dục là cội nguồn của bất hạnh, khổ đau, nhận chìm hành giả trong chốn sanh tử luân hồi. Từ đó, hành giả sẵn sàng đoạn dứt lòng tham, thường niệm tri túc, sống với những gì trong tầm tay. Hành giả đứng đúng vị trí của mình, không sanh vọng tâm tham đắm, mong cầu gì khác. Chỉ làm việc theo yêu cầu của người, của xã hội, thân tâm hành giả được hoàn toàn tự tại, an vui.

Khi lòng tham đã được cắt bỏ, hoa thị phi rơi rụng, mưa danh lợi dứt tạnh, thì bốn núi sanh, lão, bệnh, tử hoàn toàn vắng vẻ đối với hành giả. Thoát khỏi sự chi phối của thân ngũ ấm, hành giả nở nụ cười nhẹ trước sự hợp tan của cái thân phù du, bèo bọt. Từ đó, hành giả chợt bừng tỉnh, nghe được tiếng chim oanh hót báo hiệu mùa đông giá lạnh đã qua, nhường chỗ cho mùa xuân đến. Nói cách khác, tác động của ngũ ấm, hay thị phi, danh lợi, tham muốn đã tan biến hoàn toàn, thì chơn tâm hiển hiện bừng sáng. Hành giả trực nhận được pháp âm vi diệu của Đức Phật Thích Ca, bắt gặp được Pháp thân hằng hữu không sanh không diệt trong chính mình, chấm dứt chuỗi ngày u buồn đen tối. Đạt đến trạng thái ngộ đạo này, mùa xuân bao la, kỳ diệu đã nở trong lòng hành giả. Đó là mùa xuân vĩnh viễn, hay Niết-bàn mà hàng Nhị thừa tu chứng được. Nhờ trải qua một quá trình tu dưỡng thân tâm, gạn lọc, cắt bỏ tánh tham lam, ghét ganh, thị phi, danh lợi của chúng sanh, hành giả đạt đến bốn tướng Niết-bàn là chơn thường, chơn lạc, chơn ngã và chơn tịnh.

An trụ trong tướng Niết-bàn thứ nhất, hành giả tìm được chơn lạc là nguồn vui thường hằng, không cần đối tượng. Vui trong lòng với chính mình, nên mùa xuân được tô điểm bằng những đóa hoa lòng không bao giờ tàn phai, vì chúng không lệ thuộc vào sự mất còn của đối tượng, vào ngoại cảnh, hay vào người khác. Niềm vui vô tận lưu chuyển trong nội tâm của người tu chứng. Kẻ ngoại cuộc hoàn toàn không thể bước chân vào thế giới chơn lạc của hành giả. Kinh thường ví như chỉ có người uống nước mới biết được mùi vị của nước như thế nào. Hơn thế nữa, chỉ riêng con người thật của hành giả là chơn ngã mới sống được với niềm vui và tận hưởng chơn hạnh phúc ấy. Còn con người sanh diệt của hành giả cũng hoàn toàn tuyệt phần.

Chơn lạc và chơn ngã tự phản ứng ngay trong lòng hành giả. Cả hai tác động hỗ tương mật thiết đến độ tuy hai mà một, vượt ra ngoài trạng thái sanh diệt. Chúng hằng hữu dưới dạng Vô sanh, nên được gọi là chơn thường, hay tướng Niết-bàn thứ ba. Nói theo kinh điển, từ Như Lai tạng tâm ở dạng Vô sanh, các pháp Vô sanh. Tâm và pháp Vô sanh duyên với nhau, tạo thành Niết-bàn không sanh tử của A-la-hán.

Đạt được ba tướng Niết-bàn là chơn thường, chơn lạc và chơn ngã không nằm trong sanh diệt, thì đương nhiên hiện hữu tướng Niết-bàn thứ tư có tính cách chơn tịnh, hoàn toàn trong sạch. Đó là quá trình của hàng Nhị thừa tu từ nhân hướng về quả. Họ dùng pháp Phật rửa sạch vọng tưởng điên đảo, thân tâm được an lạc. Họ thành tựu bốn tướng Niết-bàn, đắc quả La-hán.

Với tâm hồn trong sáng, thoát ly sanh tử của cảnh giới Niết-bàn, hành giả nhìn lại cuộc đời thấy đúng như lời Phật dạy rằng nước mắt chúng sanh nhiều hơn đại dương. Hành giả khởi tâm từ bi, bắt đầu dấn thân hành Bồ-tát đạo, chan hòa tình thương cho mọi người, mong muốn mọi người cũng được giải thoát, an lạc như mình.

Ngày nay, bước theo dấu chân Phật, tình thương phát khởi trong tâm hồn chúng ta, thể hiện thành những việc làm hữu ích cho xã hội. Tình thương, sự giúp đỡ nhau một cách chánh đáng, chân thành, bất vụ lợi về vật chất, cũng như dìu dắt người thăng hoa tri thức. Những việc làm này đều nói lên đạo hạnh từ bi trong sáng của hàng đệ tử Phật.

Khởi đầu bằng tâm từ bi có giới hạn, tiến lên thực hiện tâm từ bi vô cùng, nhưng cả hai đều phát xuất từ chơn tâm hay chơn tình của hành giả đối với người. Thực sự lòng từ bi khởi từ chơn tâm, dù có giúp hay không, người vẫn quý mến hành giả. Trái lại, thực hiện lòng từ bi theo tâm lượng của chúng sanh, nghĩa là tu trên Căn, Trần, Thức, thì không phải là pháp của Bồ-tát. Vì thế, giúp người mà buộc họ phải lệ thuộc mình; hễ làm trái ý là ta ghét bỏ họ ngay.

Chúng ta dễ dàng nhận ra được tâm từ bi sai pháp khi người muốn giúp đỡ, bố thí, mà không ai dám nhận lòng tốt của họ, hoặc đôi khi người nhận của bố thí cảm thấy như nuốt viên sắt nóng. Quan sát phản ứng của người, để chúng ta biết mình đang tu hạnh từ bi trên Căn, Trần, Thức, hay trên chơn tánh.

Ở giai đoạn thứ nhất tu hành, nghiệp và phiền não của chúng sanh rất đáng sợ đối với hành giả. Nhưng đến giai đoạn hai, đứng trên lập trường giải thoát, trở lại cuộc đời, đối tượng của Bồ-tát là chúng sanh đau khổ. Kinh Duy Ma dạy rằng chúng sanh không có nghiệp ví như đất không có mầu mỡ, không gieo trồng gì được. Cỏ không mọc được, thì cây bồ-đề lại càng khó lên.

Nhờ tiếp cận chúng sanh, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não, hành giả nhận ra được những tệ xấu của chúng sanh và của chính bản thân. Trên bước đường tự hành hóa tha, phục vụ chúng sanh, đồng thời cũng diệt trừ được nghiệp ác của mình, hay tự lợi tức lợi tha. Với pháp tu này, chúng sanh chính là ân nhân trợ giúp Bồ-tát sớm thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác. Trái lại, chúng sanh gặp chúng sanh, thì nghiệp và phiền não càng đổ ra bao nhiêu, chúng ta càng chìm sâu trong phiền não bấy nhiêu. Vì vậy, ở lập trường ngũ uẩn, chúng ta sẽ bị khổ nhiều khi tiếp cận nhiều với chúng sanh.

Phát khởi niệm tâm từ bi dẫn Bồ-tát hội nhập vào cuộc đời để cứu vớt chúng sanh. Cứu một người, hai người, cho đến cứu được nhiều người, cuối cùng, nương theo tâm từ bi vô lượng của Đức Phật, Bồ-tát cứu độ muôn loài. Dù gặp chúng sanh thuận theo hay ác nghịch, tâm Bồ-tát vẫn bao dung, không bỏ sót loài nào. Thật vậy, tất cả loài hữu tình đến với Đức Phật đều thương Ngài như đấng Cha lành. Việc làm thánh thiện của Đức Phật thể hiện rõ nét tâm từ bi hỷ xả. Những người tu sai pháp thì chỉ từ bi hỷ xả trên đầu môi chót lưỡi. Cuộc sống của họ chẳng những không tiêu biểu một chút gì hỷ xả từ bi, mà còn trái ngược, có khác gì phỉ báng pháp Phật.

Vị Bồ-tát tiêu biểu cho hạnh nguyện từ bi viên mãn, kế thừa sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca ở cõi Ta-bà là Di Lặc Bồ-tát. Ngài là vị Bồ-tát duy nhất được Đức Thích Ca thọ ký thành Phật kế tiếp cũng có tên là Di Lặc. Di Lặc dịch từ Phạn âm Maitreya, dịch nghĩa là Từ Thị.

Ngài có danh hiệu này vì theo kinh Hoa nghiêm, khi phát tâm tu hành đạo Bồ-tát, Ngài đã khởi tu tâm từ trước nhất. Và Ngài nguyện đời đời kiếp kiếp ở bất cứ nơi nào cũng mang tên Từ Thị, cho đến thành Phật cũng vẫn giữ danh hiệu này. Nghĩa là trong thâm tâm của Bồ-tát Di Lặc luôn luôn theo đuổi mục tiêu mang vui cho đời. Trải qua quá trình tu đạo Bồ-tát dài lâu, tâm nguyện của Ngài trở thành sự thật. Ngài chứng được Từ tâm Tam muội.

Kinh Đại thừa diễn tả Bồ-tát Di Lặc ở nhiều dạng khác nhau. Theo kinh Hoa nghiêm, ngài Di Lặc đứng ở vị trí thứ 51 trong 53 nấc thang, từ khi phát tâm tu Bồ-tát đạo đến thành Phật. Đây là giai đoạn cuối đối với hành giả nào muốn tu Bồ-tát hạnh, thành quả Vô thượng Bồ-đề, thì phải diện kiến ngài Di Lặc. Như Thiện Tài đồng tử đã trải qua 50 chặng đường cầu đạo, gặp 110 thiện tri thức, mãn Thập địa Bồ-tát, mới gặp Di Lặc. Gặp Di Lặc cũng có nghĩa là tu tâm từ, đồng hạnh đồng nguyện với Ngài, cho đến thành tựu Từ tâm Tam muội bằng như Thiện Tài đồng tử, mới được Di Lặc Bồ-tát mở cửa Tỳ Lô Giá Na lâu các để thâm nhập Pháp giới.

Chúng ta theo gót ngài Di Lặc, tu tâm từ, quyết chí mang an vui cho người. Tuy nhiên, phước đức của chúng ta còn kém, khả năng còn yếu, chúng ta tự nhủ lòng rằng bất cứ lúc nào đủ điều kiện, sẽ đáp ứng yêu cầu của người. Quán tưởng tâm từ thuần thục, đến mức độ trở thành tánh thì có lực tác dụng vào chúng sanh vô hạn, gọi là Từ tâm Tam muội.

Từ tâm Tam muội của Di Lặc được trắc nghiệm trong Pháp giới. Ngài không trực tiếp đến an ủi chúng ta. Ngài nhập định, sử dụng Từ tâm Tam muội, thì giữa ngài và chúng sanh có sự tương giao. Chúng sanh nào có nhân duyên căn lành với Bồ-tát Di Lặc, sẽ cảm thấy vui khi khởi niệm nghĩ đến ngài. Nguồn vui của Di Lặc mang đến không phải là cái vui do tác ý. Vì khi có tác ý, chúng ta đã hành động trên “Thức”, nên luôn luôn bị phản ứng phụ; nghĩa là chúng ta làm cho A vui thì sẽ làm mất lòng B.

Sống với bốn tâm vô lượng này, để chuyển đổi đời mình  thành mùa xuân đầy hoa đạo, tỏa ngát hương thơm Từ Bi Hỷ Xả

Sống trong giải thoát, thấy chúng sanh khổ, hành giả khởi tâm đại bi, giúp người cùng an vui. Tuy nhiên, gặp cảnh khổ mà vội vàng giải quyết ngay, thì chỉ là cách ứng xử của Bồ-tát nhập ám. Bồ-tát có trí tuệ phải thấy một sự kiện xảy ra có liên hệ đến nhiều vấn đề khác, nên không thể giải quyết đơn giản, một mặt được. Thí dụ nhìn thấy sự hốt hoảng của con nai khi bị con hổ vồ, ai mà không khởi tâm thương xót con nai. Nhưng nếu cứu con nai thì sự sống của con hổ sẽ được giải quyết cách nào đây.

Vì thế, mỗi khi làm việc gì, Bồ-tát phải quán sát sự tương quan tương duyên chằng chịt, phức tạp giữa các loài trên thế gian. Gỡ rối mọi việc thế nào cho công bằng, hợp tình hợp lý là việc không đơn giản. Trên bước đường tu, cởi trói cho riêng mình tương đối dễ. Cởi bỏ vướng mắc giùm người khác thì khó quá, vì chúng sanh, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não là cả một vấn đề.

Nhận chân rõ như vậy, bên cạnh hạnh từ bi, hành giả phải thực hành tâm hoan hỷ, luôn chấp nhận tất cả khó khăn đổ lên thân tâm mình. Ý này được ngài Phổ Hiền dạy rằng Bồ-tát phát nguyện chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường chư Phật. Dấn thân hành Bồ-tát đạo nghĩa là chấp nhận khổ, nhưng chấp nhận với lòng đại bi. Vì thế, dù gặp hoàn cảnh xấu ác, hay dễ dàng, Bồ-tát luôn nở nụ cười hoan hỷ như ngài Di Lặc. Riêng tôi, hành đạo gặp nhiều khó khăn, gai góc, tôi vẫn cảm nhận được sự huy hoàng trong đời sống tâm linh, vì đã vượt qua được một chướng ngại để sống gần Phật hơn.

Cần cảnh giác rằng trên đường hiểm sanh tử, chúng ta luôn phải đối đầu với nhiều tệ ác mỗi ngày một lớn hơn. Trải qua vô số gian nan, vất vả, mới đến Bảo sở. Nếu thiếu hỷ tâm sẽ không thể nào bước vào cõi đời này để tu Bồ-tát hạnh được.

 Và sau cùng, muốn đạt đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác, hành giả phải trang bị tâm xả. Hành giả đến với chúng sanh, trải rộng thế giới thương yêu hiểu biết cho họ, không chút lòng mong cầu báo đáp, không muốn người bị lệ thuộc. Hành giả chỉ theo đuổi mục tiêu duy nhất là giúp cho mình và người cùng được giải thoát. Chúng sanh vô tình hay cố ý gây khó khăn, phá hại, hành giả vẫn khoan dung, tha thứ cho họ.

Chẳng những xả bỏ việc xấu ác, ngay cả việc làm tốt của người, hay của chính mình, hành giả cũng không để vướng bận trong lòng, dù là nhỏ như một hạt bụi.

Tâm gương của hành giả hoàn toàn vắng lặng, trong ngần, dứt sạch mối manh đối đãi, sanh diệt, thể nhập vào Tỳ Lô Giá Na tánh. Hành giả tự trang nghiêm bốn tâm vô lượng Từ Bi Hỷ Xả đầy đủ, mới có thể tiếp tục thực hiện các Bồ-tát hạnh khác.

Trước thềm năm mới, mừng đón xuân về, mừng ngày Đản sanh Đức Phật Di Lặc, chúng ta cùng ôn lại hạnh nguyện Từ Bi Hỷ Xả của Đức Di Lặc. Và chúng ta cũng ghi nhớ, sống với bốn tâm vô lượng này, để chuyển đổi đời mình thành mùa xuân đầy hoa đạo, tỏa ngát hương thơm Từ Bi Hỷ Xả. Chúng ta cùng nhau dâng lên cúng dường Đức Từ Thị những đóa hoa đạo hạnh Từ Bi Hỷ Xả, kết thành mùa xuân bất diệt trên bước đường thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, làm sáng đẹp cho đời trong hiện tại và mãi mãi muôn kiếp về sau.

HT.Thích Trí Quảng

Dùng Từ Bi Hỷ Xả Đối Trị Tam Độc

I. Người tu hành nhất định là phải bồi dưỡng Tứ Vô Lượng Tâm. Khi có Tứ Vô Lượng Tâm rồi, mình mới có thể giáo hóa chúng sanh và khiến cho chúng sanh lìa khổ được vui. Nếu người tu đạo không có Tứ Vô Lượng Tâm, tức là làm ngược lại với đạo và dù có tu đến tám vạn đại kiếp, cũng vẫn còn xa Phật đạo đến cả tám vạn bốn ngàn cây số.

Tứ Vô Lượng Tâm là điều kiện cơ bản mà mỗi người tu nên có. Sao gọi là Tứ Vô Lượng Tâm? Tức là từ, bi, hỷ, xả. Vô lượng là không có hạn lượng, có nghĩa là không bỏ dở nửa chừng, hoặc không đến giữa đường rồi tự vạch mức giới hạn cho mình, không muốn tiến tới. Như mới được chút đỉnh đó thì lấy làm đủ và nghĩ là xong rồi. Thật ra, Từ Bi Hỷ Xả không có lúc nào là đủ cả, mà có được càng nhiều thì càng tốt. Chúng ta nên mở rộng, tăng cường từ bi hỷ xả cho đến khi đạt đến cảnh giới toàn thiện mới thôi.

1. Từ là có thể cho niềm vui. Chúng ta có cho chúng sanh niềm vui không? Nếu như không có, đó tức là chúng ta không dùng hết lòng từ của mình. Chúng ta nên tiến đến mục tiêu “vô duyên đại từ,” là dùng lòng từ bi đối xử với những người không có duyên với mình. Chúng ta không những thông cảm với người cùng trong hoàn cảnh khó khăn, mà chúng ta cũng nên thông cảm với cả loài động vật trong cảnh hoạn nạn nữa. Nếu có chuyện không may xảy ra, chúng ta nên ra tay tiếp đỡ, giúp chúng sanh thoát vòng khổ hải. Đấy là công việc mà Phật tử nên làm. Chúng ta đừng nên có thái độ dửng dưng, chỉ biết đứng nhìn mà không chịu giúp, vì thế là đánh mất tinh thần cứu thế của Phật Giáo. Trái lại, Phật Giáo lấy từ bi làm hoài bão, dùng cửa phương tiện của đạo Phật để tiếp nhận chúng sanh.

2. Bi là có thể bạt trừ khổ não. Chúng ta có thể bạt trừ sự đau khổ của chúng sanh không? Nếu không thể, thì đó là vì chúng ta chưa dùng hết lòng bi của mìmh. Chúng ta nên có tư tưởng “đồng thể đại bi,” cũng tức là thấy người chết chìm như chính mình bị chết chìm, thấy người đói như chính mình bị đói. Phật giáo lấy bi làm tông chỉ, vì bi là lòng lân mẫn, thương xót. Trong khi các nhà Nho nói rằng “bi thiên mẫn nhân” lại cũng phù hợp với ý nghĩa trên. Do đó mà biết rằng tư tưởng của thánh nhân trong thiên hạ đều giống nhau, như cùng xuất phát theo vết bánh xe, không tách rời lòng trắc ẩn xót thương. Phật giáo chủ trương từ bi, Nho giáo đề xướng trung thành và tha thứ. Tâm tâm tương đồng, đấy là cốt tủy của tôn giáo, nếu không thì là dị thuyết của ngoại đạo.

3. Hỷ là tâm vui vẻ. Chúng ta có hoan hỷ vui thích học Phật Pháp không? Chúng ta có sanh ưu sầu, phiền não, hoặc có tâm tư bực dọc không? Nếu quả là có, chúng ta hãy mau sửa đổi, đừng phát sanh tánh tình như thế. Nếu còn chút ít tập khí, rồi dụng công phu từ thất tình lục dục, thì đó là quan niệm sai lầm. Nên hiểu là chúng ta không được tiếp tục có thứ quan niệm sai lầm như thế. Nếu không, chúng ta không thể nào tưởng tượng nỗi hậu quả của nó sẽ ra sao.

4. Xả là tâm buông xả. Chúng ta có tâm buông xả không? Nếu có, vậy là lớn hay nhỏ? Là nhất thời hay là vĩnh viễn? Xả cái gì? Là phát tâm cho chúng sanh sự vui vẻ, bạt trừ cái khổ của chúng sanh và giúp họ trong hoàn cảnh nguy khốn. Nếu làm được như thế, chúng ta sẽ sanh lòng hoan hỷ đến mức vô hạn, nhưng chúng ta đừng nên chấp vào đó – làm xong việc rồi nên quên hết chứ đừng lưu giữ trong tâm thức. Nếu chúng ta chấp mà không quên được, đó không phải là hạnh nguyện của Bồ Tát. Chúng ta nên có tinh thần thi ân bất cầu báo thì mới được xem là người Phật tử chân chánh.

II. Tâm độc con người là do ba nghiệp thân, khẩu, ý tạo thành. Ðó là vì người ta không có tâm từ bi hỷ xả. Cho nên con người bị đọa lạc đời nầy sang đời khác và tạo nghiệp ác ngày càng nhiều thêm. Các nghiệp đó tích tập lại từ ít thành nhiều, vì thế độc tố trên thân thể người ta mỗi ngày một thêm sâu đậm. Loại độc nầy không có thuốc chữa trị, rồi lâu dần sẽ biến thành rắn, rết, bò cạp v.v… Những loài động vật nầy: miệng có độc, đuôi có độc, chân có độc, thân cũng có độc. Tóm lại, có các loại độc hại như vậy, hễ nhẹ thì làm người hôn mê, còn nặng sẽ khiến cho người ta mất mạng. Quả thật đáng sợ vô cùng.

Con người nên có lòng từ bi. Ðối với người hay đối với sự việc gì, chúng ta cũng nên chung sống trong cảnh hòa bình và đối đãi với nhau bằng tấm lòng chân thật. Tất cả đều là nghĩ đến người khác, chúng ta không được dùng thủ đoạn cay độc để áp bức người. Người học Phật không được bác bỏ nhân quả, mà phải hết sức chú ý đối với chuyện nhân quả báo ứng! Giả như có người công kích quý vị một cách vô lý, hoặc họ dùng lời lẽ phỉ báng, hoặc dùng hành động hãm hại quý vị, quý vị nên xử lý với họ bằng thái độ điềm tĩnh, không chống đối. Quý vị nên dùng tâm từ bi mà cảm hóa người, gọi là: “Lấy đức báo oán,” khiến họ hồi tâm chuyển ý, biết ăn năn sám hối. Chúng ta nên học theo tinh thần của Bồ Tát Di Lặc, tức là Nhẫn! Nhẫn! Nhẫn! Như vậy thì đao thương tự nhiên sẽ biến thành gấm vóc; mưa sẽ tạnh, trời lại trong, sóng cũng yên, gió cũng lặng. Bằng không, nếu mình không có đủ định lực, không có tánh điềm đạm, chuyện nhỏ thì chửi bới, chuyện lớn thì đánh nhau. Kết quả là hai bên đều bị tổn thương, để rồi cũng như con trai, con cò tranh nhau, rốt cuộc ông câu được lợi, và bọn chúng lại trở thành sản phẩm hy sinh.

Lúc xưa có vị Phật Sống của chùa Kim Sơn vì có định lực nên chẳng sợ bất cứ loại độc hại nào. Bởi Ngài dùng lòng đại bi cảm hóa tất cả những loài động vật có độc, cho nên chúng trở thành bạn thân và tuyệt đối không phá hại Ngài. Trong phẩm Phổ Môn có nói: “Phàm hễ ai niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì có thể cảm hóa”, khiến loài vật có độc cải ác hướng thiện và sẽ không nhiễu hại con người. Khi nghiên cứu Phật Pháp, chúng ta nên thông suốt các ý nghĩa và hiểu rõ lý lẽ bên trong, có vậy mới được xem là người chân chánh học tập Phật Pháp.

Nhiều người có tư tưởng ham thích những chuyện cao xa, những cái kỳ lạ, diệu huyền. Họ chuyên dụng công vào mấy thứ cảnh giới như thế. Ðó là có tư tưởng sai lầm! Chúng ta nên ở tại nơi Từ, Bi, Hỷ, Xả mà dụng công phu. Vậy dụng công phu như thế nào? Trước hết là chúng ta nên dụng công ở chỗ không tranh, không cầu, không tham, không ích kỷ, không tự lợi, không vọng ngữ. Ðạo lý nầy tuy nông cạn, nhưng trước tiên chúng ta phải nắm chắc chỗ nông cạn đó, vì từ gần sẽ đến xa và từ cạn mới đến sâu. Chúng ta không nên bàn tán đến những chuyện huyền diệu xâu xa, hay lý luận tràng giang đại hải, để rồi không ai hiểu nỗi, vậy chẳng ích lợi chút nào.

Cho nên nói: “Nên quán tánh pháp giới, tất cả do tâm tạo.” Tâm có thể tạo thiên đường, tâm có thể tạo địa ngục. Mười Pháp Giới không ra ngoài một tâm niệm, do đây chúng ta có thể biết rằng: Tâm niệm nhất động, nghiệp ảnh tùy chi, tức là tâm niệm vừa khởi, bóng nghiệp liền theo. Người xưa có nói:

Ba chấm như chùm sao Lưỡi câu như trăng khuyết Mang lông từ đây ra Thành Phật cũng từ đấy.

Ðó là diễn tả về cách cấu tạo của chữ TÂM, do vậy chúng ta có thể hiểu rõ được tâm tánh của mình. Nếu đã hiểu rõ được tâm mình rồi, thì giận hờn gì cũng không còn nữa. Tất cả những tranh giành, tham lam, tìm cầu, nhất nhất sẽ không có nữa. Lúc bấy giờ chúng ta mới tự tại thật sự, mới giải thoát thật sự, mới hiểu rõ thật sự về ý nghĩa làm người.

Con người vốn sẵn có Phật tánh, mỗi mỗi chúng ta đều có đầy đủ hết. Tuy nhiên, chúng ta lại vứt đi Phật tánh của mình, bỏ cái gần để tìm cái xa và bám níu vào cái bên ngoài. Chúng ta tìm kiếm những thứ rác rưởi, rồi cho là vật quý giá và xem như bảo bối. Ðó thật là vừa tức cười, lại vừa đáng thương hại thay! Tôi hy vọng mọi người đều biết nhận thức ra điều nầy mà hạ thủ công phu, giữ lòng trong sạch, bớt ham muốn và đừng cạnh tranh với đời.

Có người nói: “Tất cả những gì trên thế giới, từ sơn hà đại địa, phòng xá nhà cửa, cho đến cây gai cỏ độc và đất, cây, cát, đá đều là do tâm tạo thành.” Nếu đã biết tất cả đều do tâm tạo, vậy tại sao chúng ta không quét sạch hết rác rến trong tâm để trang nghiêm cho thế giới ở vị lai? Thế giới Cực Lạc của Phật A Di Ðà được tạo thành, là do lúc xa xưa Ngài vì muốn cho chúng sanh thoát khổ được vui. Do Ngài đã siêng năng tu Lục Ðộ Vạn Hạnh, và hồi hướng công đức mà tạo ra thế giới Cực Lạc.

Chúng ta cũng nên tạo cho được một thế giới Cực Lạc. Vậy phải tạo như thế nào? Trước hết là chúng ta phải không có thất tình. Thất tình là gì? Ðó là hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục; tức là vui, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, ham muốn. Khi chúng ta điều phục được bảy thứ tình cảm đó, thì chúng sẽ không thể nào tạo phản dấy loạn nữa. Lúc bấy giờ tâm chúng ta sẽ thái bình vô sự, chuyện khổ sở gì cũng không còn. Vì sao có khổ sở? Vì tâm không được bình yên. Và nếu không có những chuyện khổ, chỉ toàn thọ hưởng các điều vui, như vậy là thế giới Cực Lạc của nhân gian rồi.

Một khi chưa hàng phục được thất tình, đó có thể vì chúng mạnh mẽ thái quá hay là yếu ớt bất cập, không phù hợp với trung đạo, cho nên chúng ta mới điên điên, đảo đảo. Nếu chúng ta hiểu rõ thất tình và có thể hàng phục được chúng, khiến chúng đừng gây sóng gió, tức là chúng ta đã hàng phục được tâm. Bởi thất tình từ trong tâm sanh ra, cho nên khi trong lòng hoan hỷ hay bực tức, đó đều là vì tâm đang bị xoay chuyển theo cảnh giới. Bây giờ chúng ta đã tìm ra căn gốc, vậy chúng ta sẽ không còn mê hoặc và cũng sẽ làm cho bọn thiên ma ngoại đạo phải hàng phục. Tại sao thiên ma ngoại đạo đến quấy nhiễu tâm mình? Bởi chúng ta đã dùng tâm tình cảm của mình một cách quá độ. Một khi hướng cầu bên ngoài, tâm chúng ta sẽ không an tĩnh. Do đó chúng ta đã dẫn dắt ma mị vào trong tâm mình để làm chủ nhân ông. Nếu chúng ta nghe theo mệnh lệnh và chịu sự chỉ huy của nó, vậy là chúng ta không còn quyền tự chủ và sẽ làm nô lệ cho nó thôi.

Trích “Khai Thị 6” Hòa Thượng Tuyên Hóa

Từ Bi Hỷ Xả 4 Chữ Cần Có Trong Tình Yêu

TỪ BI HỶ XẢ 4 CHỮ CẦN CÓ TRONG TÌNH YÊU

Cô ấy hiểu con – chàng trai trả lời đơn giản.Chàng trai học ngành công nghệ thông tin nhưng rất hay làm thơ. Mỗi lần chàng đọc thơ, cô gái nọ lắng nghe rất chăm chú và có những nhận xét sâu sắc, trong khi những cô gái xinh đẹp kia không để ý gì đến. Chàng trai đã chọn người yêu không vì vẻ đẹp bề ngoài, mà bởi sự lắng nghe và thấu hiểu. “Đạo Phật cũng dạy như vậy, có hiểu mới có thương, tình yêu phải làm bằng sự hiểu biết”, thiền sư kết luận.

Nhân danh tình thương, người ta làm khổ nhau. Chuyện đó vẫn thường xảy ra. Được hiểu và được thương vốn là một nhu cầu muôn đời của con người. Nhiều người thường cảm thấy không ai hiểu mình. Họ “đói” thương, “đói” hiểu. Họ thơ thẩn, lang thang trong cuộc đời tìm người hiểu mình, thương mình. Gặp được người hiểu mình, thương mình là may mắn lớn của cuộc đời. Tình yêu nảy nở, lớn lên từ đó. Vậy nên, “có hiểu mới có thương” là nguyên tắc chọn người yêu, chọn chồng/vợ theo quan điểm Phật giáo. Dù người ta có đẹp, có giàu đến đâu nhưng không hiểu mình sẽ làm mình khổ suốt đời. Hôn nhân có thể mở ra những con đường hoa hồng, có thể mở ra cánh cửa tù ngục. Chọn vợ, chọn chồng là một sự mạo hiểm lớn. Hãy cẩn thận, nếu không muốn chọn án tù chung thân cho cuộc đời mình.

“Từ”là khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người mình yêu. Yêu thương không phải là vấn đề hưởng thụ, yêu thương là hiến tặng. Tình thương mà không đem đến hạnh phúc cho người yêu không phải là tình thương đích thực. Yêu mà làm khổ nhau không phải tình yêu. Có những người yêu nhau, ngày nào cũng khổ, đó là tình yêu hệ luỵ, chỉ mang tới sự khổ đau. Yêu thương ai đó thực sự, nghĩa là làm cho người ta hạnh phúc, mỗi ngày.

Này người trẻ, bạn nghĩ về tình yêu của mình đi, có “từ bi hỷ xả không”? Bạn hãy can đảm tự hỏi mình rằng “Người yêu ta có hiểu niềm vui nỗi khổ của ta không? Có quan tâm đến an vui hàng ngày của ta không? Người ấy có nâng đỡ ta trên con đường sự nghiệp không?…” Và tự hỏi lại mình, liệu bạn có đang thành thực với tình yêu của mình?! Liệu tình yêu của bạn đã đủ “từ bi hỷ xả”?!

Phật giáo quan niệm như thế nào về tình dục trong tình yêu? Không phải ngẫu nhiên mà vị thiền sư tôi được hạnh ngộ bắt đầu vấn đề này bằng cách bàn về “thân tâm” trong truyền thống văn hoá Á Đông.Trong truyền thống văn hoá ta, thân với tâm là “nhất như”, tức là nếu ta không tôn kính thân thể người yêu thì cũng không tôn kính được tâm hồn người ấy. Yêu nhau là giữ gìn cho nhau, kính trọng nhau. Khi sự rẻ rúng xem thường xảy ra thì tình yêu đích thực không còn.Thân thể ta cũng như tâm hồn ta. Có những nỗi niềm sâu kín trong tâm hồn, chúng ta chỉ chia sẻ với người tri kỉ. Thân thể ta cũng vậy, có những vùng thiêng liêng và riêng tư, ta không muốn ai chạm tới, ngoài người ta yêu, ta tin, ta muốn sống trọn đời, trọn kiếp.Trong tình yêu lớn và cao quý, bất cứ lời nói và cử chỉ nào cũng phải biểu lộ sự tương kính. Người con trai phải tôn trọng người con gái mình yêu, cả thân thể lẫn tâm hồn. Người con gái biết giữ gìn, cũng là biết làm người yêu thêm tương kính, nuôi dưỡng hạnh phúc lâu dài về sau.

Các loại tin khác:

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

THÁM TỬ HÔN NHÂN THÀNH ĐẠT

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 14

Lượt truy cập hôm nay: 193

Lượt truy cập: 506652

Hãy Từ Bi Hỷ Xả Nhưng Xin Đừng Chìm Trong Vô Minh

Đó là quan điểm của Phật giáo về cuộc sống hàng ngày.

Trích trong Tinh hoa Phật học của TS Huệ Dân: “Đạo Phật là nguồn sống, xây dựng trên căn bản của “Từ Bi” và “Trí Tuệ”, qua những mối tương quan giữa sự vật hiện hữu để giúp con người hiểu biết chân chính, tạo lập cuộc sống cho chính mình và chuyển đổi hoàn cảnh chung quanh.” Hơn 2.500 đã trôi qua, nhưng những chân lý mà Đức Phật đã giác ngộ vẫn ngày được nhiều người biết và ứng dụng vào trong cuộc sống của mình.

1. Bố thí, cúng dường:

Là hành động làm phước thiện, theo luật nhân quả, nó là điều kiện thiết yếu để tiêu trừ đau khổ, chuyển hóa nghèo cùng khốn đốn, không còn sợ nghèo đói và vượt qua nỗi bất an sợ hãi trong cuộc đời như mũi tên chỉ đường giúp không bị lầm đường lạc lối.

Nhờ bố thí, mà lòng tham lam, ích kỷ được giảm bớt và ngày càng được tiêu trừ tâm xấu ác. Nếu chúng ta chất chứa lòng tham sẽ tạo ra nhiều nỗi khổ niềm đau cho người khác, nuôi dưỡng lòng hiềm hận, luôn sống trong bất an, lo sợ mà làm tổn hại người khác.

2. Thiền tập:

Giúp chúng ta thanh lọc các phiền muộn khổ đau do ham muốn quá đáng như tham lam, sân hận và si mê, ganh ghét, ích kỷ, bỏn sẻn…..Những phiền não này làm cho chúng ta phiền muộn đau khổ. Để cho thiền tập đạt được kết quả tốt đẹp, chúng ta phải giữ giới trong sạch, người giết hại hay trộm cướp của người khác khó đạt được thiền định vì trong tâm họ còn quá nhiều toan tính trong lo lắng và sợ hãi.

Nhờ giữ giới tinh nghiêm ta dễ dàng phát triển định tuệ (là có trí tuệ), ta dễ dàng buông xả những tâm niệm xấu ác làm tổn hại người khác.

3. Khiêm tốn:

Là một loại đức hạnh làm cho người khác thương mến chúng ta, vì nó trái ngược tính cao ngạo, chỉ đưa đến sự hiềm thù mà oán ghét lẫn nhau. Nếu chúng ta muốn mọi người thích gần gũi mến thương, thì ta phải biết khiêm tốn. Người biết khiêm tốn luôn được mọi người yêu mến, quý trọng. Người khiêm tốn là người luôn có tấm lòng từ bi quảng đại, biết bao dung và độ lượng trong mọi vấn đề.

4. Giao tiếp bằng trái tim:

Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm nói “chỉ cần chúng ta có thái độ chân thành, thân thiện, đối đãi với mọi người bằng tình người đích thực, xem mọi người đều là người tốt thì chúng ta sẽ xây dựng thành công mối quan hệ với người khác.” Quy mọi mối quan hệ con người về một mối – chân tâm lương thiện.

Giao tiếp bằng trái tim là học cách lắng nghe và tập cho mình thá độ chân thành trong giao tiếp, học cách khen ngợi và phát hiện ưu điểm của người khác, luôn mở rộng lòng từ bi và bao dung, quan tâm giúp đỡ mọi người và tinh thần hy sinh, phụng hiến.

Điểm mù quáng nhất của con người trong giao tiếp là “lấy bản thân làm trung tâm”: Nói, làm điều gì cũng chỉ biết xuất phát từ góc độ cá nhân, chỉ mong người khác chấp nhận mình mà quên đặt mình vào vị trí người khác, không nghĩ đến cảm nhận và ý nguyện của người khác. Biết đặt mình vào vị trí người khác, suy nghĩ hộ người khác chính là chìa khóa mở ra cánh cửa giao tiếp thành công.

Có làm được 4 điều này, biết, hiểu và nhìn nhận đúng bản chất thực sự của mọi việc xung quanh, con người mới có được an lạc, hạnh phúc.

Thế Nào Là Từ Bi Hỷ Xả? Hiểu Sao Cho Đúng Tinh Thần Phật Đạo?

Viết và luận giảng bởi: Kim Cang Tấn Dũng. Ngày 25 tháng 8 năm 2024

Đã từ lâu mọi người, những ai là Phật tử theo đạo, đều được nghe hoặc được giảng ít nhiều về Tứ Vô Lượng Tâm trong nhà phật – hay còn được gọi là Đạo Từ Bi Hỷ Xả của nhà Phật. Bên Thiên Chúa Giáo hay Công Giáo thì người ta gọi là Tình Thương, là Lòng Bác Ái của Chúa. Về cơ bản thì gần như nhau.

1. Tự lợi – Lợi Tha & Tự Giác – Giác Tha: bất cứ luận nghĩa về lý hay vận dụng về sự đều phải có lợi cho mình và có lợi cho người. Mình được giác ngộ tức là người khác cũng được giác ngộ hoặc ngược lại. Nếu vẫn chưa luận hay dụng được hai mặt này thì xem như vẫn còn chưa thông. Lý sự chưa viên dung.

2. Hiển – Mật Đồng Đẳng: Mọi lý luận về nghĩa hay dụng về sự đều có hai mặt của một vấn đề. Nếu nhìn được phần Hiển thì cố gắng nhìn luôn phần Mật để thấy tính Chân Thật của nó. Hay nói đúng hơn là vận dụng Bát Nhã Trí (cơ bản là Pháp Đối Trị) làm chủ đạo trong tư tưởng, như là mẹ của các Pháp mà Phật đã nói đến.

3. Ngã Nhân Chúng Sanh Thọ Giả như huyễn: tức cả các hiện tượng đều do nhân duyên mà sanh. Nếu đã do nhân duyên sanh thị thoắt đến thoát đi, có thường có đoạn. Nhìn các hiện tượng bên ngoài để đối ứng vào bên trong và ngược lại. Hiểu được vậy thì mới thấy được Ngã Nhân như Huyễn, mới nắm bắt sâu được tính chân thật của Lý và Sự.

4. Hai Vô Ngã: Pháp vốn Vô Ngã, Nhân cũng vốn Vô Ngã

Phần 1: Thế thì hiểu như thế nào là Từ, là Bi, là Hỷ và là Xả?

Trước hết chúng ta đi vào chiều Hiển Nghĩa của Tứ Vô Lượng Tâm.

Tâm Từ: là một trạng thái mở rộng tấm lòng bao dung, thông cảm, yêu thương đối với tất cả sự vật, con người xung quanh mình. Đối lập với “lòng từ” là “lòng sân hận”, là một trạng thái ghét bỏ, chán chường, phân biệt với tất cả mọi sự vật, con người xung quanh. Như vậy, người có lòng từ nhìn thấy xung quanh một tinh thần bao la bác ái, dễ đón nhận và hòa mình vào thế giới tâm của mọi vật. Nhìn thấy một người làm sai, làm ác, làm một việc không thiện, với một người có lòng từ, họ không trách móc, phê phán, chê bai mà ngược lại họ lại cảm thông, tìm hiểu để biết được nguyên nhân của sự việc với lòng từ tâm của họ thay vì sân hận họ.

Tâm từ thể hiện đến đâu thì mang đến đó một xúc cảm nhẹ nhàng, êm dịu, chan hòa, ấm áp môi trường xung quanh mình. Khi tâm từ xuất hiện thì đương nhiên tâm sân hận sẽ giảm hoặc mất đi, những ác ý, thù oán sẽ không phát sinh. Tâm từ ở đây là nói đến lòng yêu thương về tinh thần chứ không phải vật chất là sự yêu thương xác thịt, cơ thể hay lòng triều mến vị kỷ, lòng luyến ái vì một mối nhân duyên thâm tình nào.

Nhưng theo tinh thần tự lợi – lợi tha, Tâm Từ đối với xung quanh như thế nào thì cũng được thể hiện đối với chính bản thân mình như thế đó. Cảm thông, yêu thương mọi người xung quanh thì cũng phải yêu thương lấy chính bản thân mình. Lo lắng mọi người vì lòng từ ái mà quên đi bản thân thì đó là tâm “từ kỷ” để rồi bản thân mình không được khoẻ mạnh cả về vật chất lẫn tinh thần thì ấy là hiểu sai Tâm Từ của nhà Phật. Chúng ta phải hiểu nhà Phật muốn nói đến tâm từ ở đây là “Tâm Từ Mẫn”, dùng sự sáng suốt của lý trí, lý lẽ của Phật Đạo mà thể hiện lòng từ với mọi chúng tình (Chúng Sanh hữu tình và vô tình) một cách đúng nhất theo thời gian, không gian và tâm đạo. Đó là Hiển Nghĩa của Tâm Từ.

Tuy nhiên, khi nói đến Tâm bi, người ta thường nghĩ ngay đến việc thương xót những người nghèo hèn, bần cùng, cơ cực hay những người đang đau khổ mà thương xót. Điều đó cũng đúng nhưng đó là lòng thể hiện sự “Bi Ai” của con người chúng sanh chứ không phải là “Lòng Bi” theo tinh thần nhà Phật. Cũng giống như trên, Tâm Bi mà nhà Phật muốn nói đến là “Tâm Bi Mẫn”. Việc thể hiện tấm lòng thương xót Chúng tình cần phải dùng sự sáng suốt bằng lý trí mà thể hiện.

Không phải nhìn thấy cảnh đau khổ rồi hùa mình vào đó mà thương xót, thể hiện lòng bi ai rồi tâm mình cùng đau khổ, cùng bệnh theo họ thì như vậy là hại người hại ta rồi? Thương xót họ, đồng cảm với phiền não của họ, và vì Lòng Bi Mẫn của nhà Phật mà giúp họ một cách sáng suốt để thoát khỏi phiền não một cách gián tiếp hay trực tiếp, thấy giúp mà không có giúp, không có mong cầu báo đáp thì đó là lòng Bi Mẫn. Đồng cảm với đau khổ của chúng sanh nhưng tâm phải được thanh tịnh, tâm không bị cấu nhiễm bởi sự phiền lụy để rồi làm cho tâm phiền muộn kiểm soát chính mình thì đó mới chính là sự Bi Mẫn mà nhà Phật muốn nói đến. Chúng ta sẽ bàn sâu thêm phần Tâm Từ Bi theo nghĩa Mật và cách vận dụng thì sẽ được hiểu sâu thêm phần này.

Tại sao Tâm Từ và Tâm Bi thường đi liền với nhau? Cơ bản vì Tâm Bi làm nhân và Tâm Từ làm Quả nên cặp phạm trù này đi liền với nhau. Nhờ có tâm bi làm nhân (tâm thương xót), khi gặp duyên là hoàn cảnh hoặc sự việc phiền não diễn ra thông qua tai nghe, mắt thấy thì Tâm Từ (Tâm bao la) khởi lên với lòng bao dung và thông cảm hiển hiện cho Chúng tình xung quanh. Người ta gọi chung qui lại là Tâm Từ Bi.

Tâm Hỷ: là một trạng thái vui vẻ, hoan hỷ, lạc quan cho những Chúng tình xung quanh đang gặp được nhiều điều may mắn, gặp thiện nghiệp, cuộc sống an lạc hoặc thấy Chúng tình đang hướng thiện, hướng đến Tam bảo và giải thoát. Đối lập với “lòng vui vẻ = tâm hỷ” là “lòng ganh tỵ = tâm sân”. Tâm sân luôn luôn không chấp nhận hoặc thỏa mãn những gì xung quanh có và hơn mình nhưng ngược lại với người có tâm hỷ, họ cùng hòa mình vào niềm vui chung của mọi người, hoặc thậm chí luôn mang trong tâm một trạng thái làm thế nào mọi người luôn luôn được hoan hỷ và đương nhiên trong đó cũng có mình theo tinh thần tự lợi – lợi tha.

Tâm hỷ luôn tạo ra một không gian/ một trạng thái hỷ lạc và lạc quan, họ luôn luôn nghĩ đến ánh sáng (mặt tốt của sự việc) trong mọi lúc mọi nơi cho dù bóng tối (mặt không tốt của sự việc) có vây quanh lấy chính họ. Do Tâm hỷ là sự vận hành lý trí tâm bên trong nội tại, nên Tâm hỷ hoàn toàn độc lập và không bị kiểm soát bởi tính sự bên ngoài tác động.

Tuy nhiên, để có được Tâm hỷ thì vô cùng khó so với Tâm Từ Bi vì người có tâm Hỷ phải luôn luôn chủ động dùng lý trí và sự sáng suốt của Giáo lý nhà Phật mà nhìn mọi sự vật hoặc chúng tình xung quanh trong con mắt lạc quan, hoan hỷ cho dù Cảnh và Trần theo nhân duyên diễn ra tốt hay xấu đi chăng nữa. Đó mới chính là Tâm hỷ Lạc thật sự mà theo Hiển nghĩa nhà Phật muốn nói đến.

Tâm Xả: là một trạng thái muốn hoặc hành động/suy nghĩ buông bỏ, đưa ra ngoài, bỏ qua hết những phiền não, những thứ không tốt, những bóng tối của chính Mình và cả của những Chúng tình xung quanh mình đang gặp phải. Trái với “Tâm xả” là “Tâm cố chấp” vì Tâm cố chấp là loại tâm luôn luôn muốn giữ lại, không từ bỏ bất cứ thứ gì cho dù thứ đó có lợi hoặc có hại cho ta hay cho mọi người xung quanh. Tuy nhiên, mọi người trước giờ vẫn suy nghĩ hoặc được giảng rằng Tâm xả là chỉ đơn thuần buông bỏ hết mọi thứ xung quanh thì đã coi như xả, không quan tâm đến nữa.

Hiểu như vậy là hiểu sai tinh thần Phật đạo rồi. Xả bỏ ở đây không phải là buông bỏ hết, không màng đến là xả vì hành động như thế, mang cái tâm như thế thì đâu khác gì là một tâm lãnh đạm, một tâm thờ ơ, một tâm vô thường rồi? Nói đến tâm xả mà hiểu không rõ ý nghĩa “buông xả” thì nếu ta buông bỏ hết, không quan tâm nữa thì những lý giải bên trên về Tâm Từ Bi, Tâm Hỷ làm sao mà thực hiện được nữa?

Buông xả ở đây là loại bỏ khỏi tâm mình những tạp niệm, những suy nghĩ trói buộc, những suy nghĩ phiền não mà gây hại cho mình và người, làm cho mình và người không được yên được an lạc. Còn những điều gì tốt đẹp, những suy nghĩ an lạc cho cả mình và người thì cứ giữ lại. Bởi thế, theo đúng tinh thần tự lợi – lợi tha, Tâm xả nhiều khi được vận dụng không chỉ vì lợi cho mình mà xả nhưng đôi khi vì lợi cho người mà chúng ta cũng phải xả.

” Một ví dụ cho thấy: một người nào đó vô tình họ gặp ta và chửi mắng ta, theo thông thường thì chúng ta sẽ bực tức và chửi mắng lại. Nhưng khi nghĩ đến lý nhân quả của nhà Phật, họ mắng ta họ sẽ bị nghiệp ít nhiều, khi ta mắng lại ta cũng bị thế. Nghiệp cứ sẽ chồng nghiệp mặc dù nhân duyên người lạ đến mắng ta không rõ nguồn gốc (Phần này sẽ nói sâu thêm ở phần Mật Nghĩa). Vì nghĩ đến cái xấu sẽ mang đến cho cả người chửi ta và cả ta khi chửi lại, ta quyết định XẢ. Vậy hành động buông xả này hoàn toàn khác với hành động thờ ơ, không quan tâm đến, lãnh đạm hay xem vô thường. Vì sao khác? Khác là vì diễn biến tâm khác. Trong tâm diễn ra một loạt các loại tâm từ bình thường tâm đến phức tạp tâm, nhưng nhờ vận dụng lý trí sáng suốt của nhà Phật mà đi đến quyết định dùng Tâm xả có lợi cho người và mình thì đó mới đúng là Tâm xả theo Hiển nghĩa nhà Phật muốn nói đến. Không những thế, khi vừa xả xong, ta lại cảm thấy thương cho người chửi ta vì nghĩ đến nghiệp họ sẽ gánh, lập tức Tâm Từ và Tâm Bi xuất hiện. Và sau cùng, nhờ ta làm hành động xả ít nhiều cũng không tạo nghiệp thêm cho họ, Tâm Hỷ liền đến. Như vậy, tâm xả là tâm khó thực hiện nhất do ta xả vì có lợi cho cả mình và người bằng lý trí sáng suốt và khi dùng tâm xả đã bao gồm Tứ vô lượng tâm trong đó.”

Bây giờ, chúng ta đi sâu vào chiều Mật Nghĩa của Tứ Vô Lượng Tâm. Hiểu thế nào là chiều Mật Nghĩa? Ở đây, chúng ta sẽ nhìn Tứ Vô Lượng tâm theo 3 thời: quá khứ – hiện tại – vị lai và vận dụng lý thâm sâu của Lý & Sự viên dung để hiểu thêm về mặt Mật Nghĩa của Tứ Vô Lượng tâm này.

Như chúng ta thấy, mỗi một sự việc hoặc một Chúng Tình (= chúng sanh hữu tình và vô tình) ở hiện tại đang gặp những quả An lạc, Hạnh phúc, Giàu Sang hay ngược lại quả Đau khổ, Phiền não, Nghèo hèn thì chắc chắn đều do Nhân Duyên và Nhân Quả hình thành nên. Nhân ở trong quá khứ thuộc kiếp này hay các kiếp trước hình thành quả của ngày hôm nay. Biết được thế thì cũng tương tự phải hiểu rằng, Quả của ngày hôm này sẽ thành Nhân trong quá khứ nếu chúng ta nhìn đến quả của tương lai. Nghĩa là cái quả hiện tại không có nghĩa là cố định hay không thay đổi được. Nếu chúng ta tạo nhân trợ duyên tốt thì tương lai cũng sẽ gặt hái được quả lành quả thiện thay vì quả ác quả nghiệp. Với cách nhìn 3 chiều: quá khứ – hiện tại – vị lai về nhân quả rồi thì vẫn chưa đủ. Để nhìn được thêm Mật nghĩa của Tứ vô lương tâm, điều kiện cần nữa là chúng ta cần vận dụng thêm lý & sự của nhà Phật nữa thì cái nhìn mới vẹn toàn. Nói như vậy chắc là nghe khó hiểu và các bạn tưởng tôi nói vòng vòng?

Ở đây muốn nhắc các bạn rằng, về mặt Hiển nghĩa của Tứ Vô Lượng Tâm đã được diễn bày ở trên, chúng ta có thể dụng tâm theo đúng tinh thần hiển nghĩa đó. Tuy nhiên, chúng ta có thể bị lầm nếu không nhìn xuyên suốt ba thời và lý nhân quả thì tâm thể hiện có thể không đúng.

” Một ví dụ rằng: Đối với những người nghèo hèn, khổ đau chúng ta thể hiện tâm từ và tâm bi. Điều này đúng. Nhưng khi tiếp xúc, chúng ta thấy họ vẫn lạc quan, không nghĩ đến các ác nghiệp để mưu sinh và cuộc sống vẫn an lạc, vẫn hướng đến Tam bảo thì rõ ràng tương lai của họ sẽ được sáng, chúng ta thay vì cảm thấy thương xót họ (tâm bi) thì ngược lại chúng ta cảm thấy vui vẻ hoan hỷ (tâm hỷ) cho họ khi thấy được tiền đồ của tương lai ở kiếp này hoặc kiếp sau do nhân thiện nghiệp gieo ở hiện tại”.

Ngược lại một gia đình giàu sang phú quý, chúng ta dụng tâm hỷ với họ là đúng. Nhưng tương tự trên, khi tiếp xúc, chúng ta nhận ra rằng cái quả họ đang có là do ác nghiệp tạo nên, vậy nếu họ không gây thiện nghiệp ở hiện tại này thì liệu cái Vui của họ sẽ được bao lâu? Với cách nhìn Mật nghĩa ấy, trong tâm chúng ta sẽ lập tức hiện lên Tâm Bi và Tâm từ đối với họ. Tâm bi là vì thương xót và đau khổ khi nhìn thấy tương lai mà họ sẽ gánh do cái quả của quá khứ và hiện tại hình thành.

Tâm từ là hiểu và bao dung được cái quả họ có hiện từ do ác nghiệp quá khứ mà ra, mà tại sao do ác nghiệp quá khứ có, vì họ cũng muốn hạnh phúc nhanh trong hiện tại mà thôi. Tâm tốt lành nhưng hành động sai trái, thấy điều đó mà thương mà khởi tâm Từ. Thấy thương thề, chúng ta khuyên răn họ nên chuyên tâm từ đây mà hãy làm những thiện nghiệp, thiện căn, hướng đến Tam bảo, hãy cố gắng buông bỏ bớt những cái không tốt cho quả tương lai mà hãy hướng về những cái tốt cho quả tương lai. Làm được thế thì tức là cả ta và người cùng nhau hướng về Tâm xả.

Qua ví dụ trên, chúng ta thấy, khi nhìn kỹ vào mặt Mật Nghĩa, thì với một hiện tượng vui chưa chắc là Tâm hỷ và với một chúng tình đang khổ, chưa chắc là Tâm bi. Thấy một chúng sanh khổ chưa chắc là tương lai khổ và một chúng sanh sướng chưa chắc tương lai được an lạc nếu không biết quả hôm nay là thành Nhân trong quá khứ.

Tứ Vô lượng Tâm (Từ Bi Hỷ xả) được vận dụng linh hoạt theo cả mặt Hiển và mặt Mật tùy biến theo nhân duyên và theo ba thời như trên đã diễn bày. Và điều này hoàn tòan Khế cơ và Khế lý theo tinh thần của nhà Phật đã nói trên: tự lợi – lợi tha, hiển – mật đồng đẳng, lý – sự viên dung và cuối cùng: ngã nhân chúng sanh thọ giả như huyễn.

Phần 2: Vậy làm thế nào để vận dụng Tứ Vô Lượng Tâm (Từ Bi Hỷ Xả trong tu tập và trong cuộc sống?

Khi đã hiểu rõ được Từ Bi Hỷ Xả theo tinh thần trên, khi chúng ta dung trong Tu tập và trong cuộc sống, chúng ta nên theo tinh thần:

Từ Câu Bi Dẫn Hỷ Phược Xả Đẳng

Vì sao lại như thế?

Đối với Tâm Từ: Chúng ta thể hiển Lòng Từ để câu dẫn Chúng Tình (= Chúng sanh hữu tình và vô tình) vào cái Duyên Khởi lành. Muốn chúng tình được tốt, được tương lai an lành thì nếu chúng ta không gieo Duyên lành thì sao họ có được quả lành?

Một chúng tình đã có lòng từ rồi thì họ không thể khởi ác, khởi tham, khởi sân và khởi si. Làm như vậy thì chúng ta cùng nhau đang giúp Chúng Tình chuyển hóa tam nghiệp và tinh tấn trong tu hành cũng như trong đời sống rồi. vậy thì tại sao chúng ta không bắt đầu như thế?

Đối với Tâm Bi: Chúng ta thể hiển Lòng Bi để Chúng Tình cảm nhận được sự đồng cảm, đồng hành đồng sự thì họ mới đồng ý cho chúng ta Dẫn họ ra khỏi nghèo, khỏi khổ, khỏi phiền muộn chứ. Bản thân con người hoặc một chúng tình đâu có dễ dàng chấp nhận đi chung với một người khác nếu người đó không là đồng hành hoặc đồng sự. Mà nếu không đi chung thì làm sao chúng ta dẫn họ ra được khỏi khó khăn phiền muộn chứ? Ra rồi không có nghĩa là sẽ không vô lại. Một chúng tình được giúp đỡ thoát ra khỏi phiền muộn thì lập tức dung ngay quả lành này mà gieo cho minh những duyên lành tiếp theo, nếu không việc quay lại là điều không biết trước. Do vậy, khi thể hiện tâm bi, chúng ta phải luôn luôn đồng hành đồng sự dẫn họ đi ….và chi khi đi đến con đường Giải thoát và Giác ngộ thì cơ duyên quay lai phiền muộn mới dứt. Khi đó Tâm bi không cần dẫn nữa.

Đối với Tâm Hỷ: Chúng ta thể hiện Lòng Vui ra bên ngoài để chúng tình được vui theo. Tâm hỷ cũng có sức loan tỏa của nó, khi lực càng lớn thì môi trường / hoàn cảnh xung quanh cũng bị tác động tương ứng. Chúng ta vui và niềm vui của chúng ta quá lớn thì mọi người xung quanh cũng được vui lây. Chúng ta vui mà niềm vui của chúng ta không những quá lớn mà còn có điểm chung với mục đích lớn lao của mọi người hơn thì sức ảnh hưởng niềm vui sẽ như thế nào? Và với tấm lòng hoan hỷ đi đến đâu làm mọi người được hoan hỷ theo thì đó không phải là lợi mình và cũng lợi cho người sao? Tinh thần ấy liệu sao gọi là không chánh pháp!

Đối với Tâm Xả: Chúng ta thể hiện lòng buông bỏ không phải vì lợi cho riêng bản thân chúng ta mà còn phải vì lợi của mọi Chúng tình xung quanh nữa như đã nói ở trên. Mà muốn mang cái lợi ích đến cho cả mình và người thì không thể phân biệt cao thấp, không thể cân đo đong đếm, lại càng không thể chấp trong và chấp ngoài. Vậy thì với tinh thần ấy, chúng ta Xả là vì sự Bình Đẳng lợi ích của cả trong cả ngoài, cả mình và người. Lợi ích đây muốn nói đến là những gì tốt đẹp, những gì tạo phước trí, những gì giảm bớt nghiệp, những gì thuận duyên, những gì giảm phiền não v.v…thì vì điều đó mà chúng ta xả và bình đẳng cùng nhận được.

Đó chính là tinh thần của nhà Phật khi vận dụng và tu tập Tứ Vô Lượng Tâm

Cập nhật thông tin chi tiết về Cách Thực Hành Từ Bi Hỷ Xả Để Đạt Được Đại Lạc trên website Getset.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!